Thứ Tư, 1 tháng 9, 2010

MỘT LÁ THƯ ĐẶC BIỆT

MỘT LÁ THƯ ĐẶC BIỆT

Cuối tháng 12.1988 bữa điện thành phố chuyển đến tôi thư của anh Trương Ngô Dũng, chồng cũ của Đoàn Thị Thuận. Trong thư anh Dũng nhờ chuyển thư anh đến toà soạn TT Thanh Niên sử dụng. Trong thời gian TTTN có nhiều việc, nhiều bài cần thiết về vụ án Đoàn Thị Thuận nên thư anh Trương Ngô Dũng chưa dùng được.
Đến nay sự việc về vụ án Đoàn Thị Thuận đã thật sáng rõ, nhất là kiểm sát viên cao cấp đồng chí Khuất Văn Hiến của VKSTC về kiểm tra và đã có kết luận. Nhân dịp làm việc tôi có đưa thư anh Trương Ngô Dũng cho đồng chí Hiến xem. Đồng chí Hiến xin mượn bức thư. Hôm trả, anh Hiến có ý định mượn lại thư Dũng để ĐC Viện trưởng VKSTC đọc. Theo anh, thư anh Trương Ngô Dũng có nhiều điều sẽ làm rõ thêm trong vụ án Đoàn Thị Thuận.
Nhân dịp xuất bản tập phóng sự, thư anh Dũng là một tài liệu rất cần thiết để bạn đọc tham khảo và hiểu thêm mức độ nghiêm trọng của vụ án. Sự nghiêm trọng không riêng “nhân vật” chính là chị Thuận mà còn nhiều người khác cũng có liên can, một sự liên can có chủ ý, có áp đặt trắng trợn và thô bạo.
Trong khi cho đăng thư anh Trương Ngô Dũng chúng tôi có cắt bớt và lược đi nhiều chỗ nặng nề, nhất là thái độ đau xót hoặc căm tức của người trong cuộc.
Xin cảm ơn
TRÚC CHI

Tuy Hoà, ngày 6.12.1988
Kính gửi ban biên tập TT Thanh niên,

Cho phép tôi : Trương Ngô Dũng, cha đẻ cháu Trương Tài Chức 6 tuổi, chồng cũ của nạn nhân Đoàn Thị Thuận được gửi đến “tâm sự một nỗi đau” với quí báo.
Nối bước cha anh, bản thân tôi có lăn lộn với năm tháng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, nhân dân được giải phóng hưởng niềm vui, hạnh phúc. Mặc dù chiến tranh có cướp đi một phần xương thịt, nhưng khi về lại địa phương tôi vẫn cố gang lao động góp phần xây dựng đất nước. Nhưng thực tế đại phương đối xử với tôi như đặt tôi vào một “ngõ tối” trong xã hội. Thực tế cấp lãnh đạo, trong đó một số người lợi dụng chức quyền dựng thành bức tường che đậy và ngăn cách giữa nhân dân với Đảng. Tôi là nạn nhân trong bức tường này, 13 năm tôi mang một nỗi đau, nhất là trong vụ việc cô Đoàn Thị Thuận tôi xin được kêu oan.
Tôi sinh ra, lớn lên trong một gia đình nghèo khổ. Sau đất nước được giải phóng, tôi mang thương tật trở về mang “danh dự” là thương binh. Năm 1979 tôi với cô Thuận xây dựng với nhau, chúng tôi sinh được một cháu trai nay trong 6 tuổi. Trong thời gian chung sống, vết thương thương lại hành hạ làm tôi sinh ra tính tình khó chịu. Trái tính trái nết của tôi mà làm vợ con không chung sống được phải đi đến ly hôn. Hai chúng tôi xa nhau nhưng giọt máu của chung lại gửi gắm cho mẹ nó nuôi nấng.
Nhưng ngờ đâu bọn công an xã Hoà Quang lợi dụng chức quyền đánh đập tra tấn dã man cô Thuận để đi đến tê liệt gần hết toàn thân. Giờ con tôi biết gửi gắm vào đâu? Tôi đau đớn và thất vọng. Ngày mai đứa con của chúng tôi sẽ ra sao? Ngày mở phiên toà sơ thẩm tôi có đến dự để được thấy sự công bằng, công lý.
Sáng hôm đó trời mưa to gió lớn nhưng trong ngoài hội trường người đông nghịt. Lúc ấy nhìn từ xa một chiếc xe con chạy đến, ai cũng đoán là cán bộ cao cấp đến dự. Chiếc xe dừng lại, trên xe bước xuống lại là hai tên Lực và Bắc cùng hai công an của trại. Lực, Bắc ăn mặc sang trọng, trong mặc sơ mi trắng, ngoài khoác áo lạnh, xỏ hai tay vào túi đi vào. Nhìn chúng tưởng như đại biểu dự phiên toà. Khi toà hỏi từng tên về cách thức đánh đập tra tấn cô Thuận, tên Bắc khai một cách thản nhiên việc trói hai tay nạn nhân ra sau lưng kéo lên thả xuống, việc dùng thước bảng gỗ đánh vào hai chân, dùng hai chân đá vào người cho đến ngất xỉu. Chúng khai đến đâu nhân dân ào ào, sôi sục đến đấy. Tiếng ồn làm át tiếng người xử, tiếng người khai. Thấy không khí căng quá phiên toà xử phải dừng lại, chiều xử tiếp. Thấy tên Bắc theo công an đi ra với thái độ xấc láo, nghĩ đến tội ác của nó, tức quá không chịu được, nên tôi có tát nó một tát vào mặt,
Ngay đó, công an bắt tôi, còng hai tay chặt lại. Còng bóp làm hai tay tôi đau buốt. Cũng ngay sau đó họ giải tôi lên công an thị, lập biên bản đưa thẳng tôi ra trại giam thị xã Tuy Hoà. Vừa vào trại giam tôi liền bị công an đánh đập tàn nhẫn rồi đưa tôi vào biệt phòng. Ở biệt phòng hai chân tôi còn chéo cho đến 10 ngày. Đến ngày thứ 10 công an trại tạm giam đem cáo trạng đến phòng giam tôi đọc và mở còng đưa tôi ra toà luôn. Trên đường đi ra toà hai tay tôi trói lại, trong khi người tôi đang lã đi, quần áo hôi thối, rách nát vì trong 10 ngày tiểu tiện đại tiện tại chỗ. Trong 10 ngày đó, cha mẹ, anh em đã bảy lần mang cơm nước, thuốc men, quần áo đến cho tôi đều bị xua đuổi, bắt đem về nhà.
Đến toà án để xử, nhưng vì công an trại đưa đi muộn nên phải đem đến VKS thị xã. Viện KS đọc lại bản cáo trạng, rồi ông phó chánh án hỏi tôi ba điều. Một, ai báo cho anh biết phiên toà sơ thẩm mở xử vụ công an xã Hoà Quang đánh người gây thương tích mà anh đến. Hai, anh đến bằng phương tiện gì? Ba, ai kích động anh đánh Trương Văn Bắc?
Mặc dù tôi rất mệt nhưng cũng rang trả lời theo ba câu hỏi trên. Phiên toà xử bọn đánh người dã man từ người già đến trẻ nhỏ toàn thị xã ai cũng biết ai cũng đến. Tôi đến trên một chiếc xe ngựa có chở nhiều hành khách, trong đó có 7 phụ nữ cùng đi. Tội dã man của bọn chúng làm tôi nghĩ đến đứa con nên không kìm được, có đánh tên Bắc một tát tai. Đánh xong tôi có ân hận. Ông VKS nêu có ý kiến tôi cố ý đánh người gây thương tích, phạm điều luật 190 của bộ Luật hình sự nên bị phạt từ từ 6 đến 9 tháng và bồi thường 750đ tiền thuốc cho tên Bắc. Nộp tiền bồi thường mặc dù không thấy giấy tờ đơn thuốc mà chỉ qua lời khai của tên Bắc mà thôi. Rồi sau gần 30 phút xét xử, toà tuyên án tôi bị phạt 6 tháng tù giam.
Ba tháng liền ở trại giam hai chân tôi bị còng, đến tháng thứ tư ban ngày được tháo còng, ban đêm thì còng lại. Có một lần vết thương đau nhức hành hạ, tôi kêu rên thì cán bộ trại được lệnh của Trương Trọng Lực vào còng suốt 7 ngày 7 đêm. Đến tháng thứ 5, ngày cho ra lao động, tối tôi lại bị còng. Tháng thứ 6 cũng như tháng thứ 5 cho đến ngày mãn tù tôi được về nhà.
Trong thời gian tôi bị giam ở trại bị hành hạ đủ điều thì bọn Lực, Bắc cùng với số cán bộ du kích xã Hoà An cũng đánh người gây thương tích được tự do ở ngoài ngày cũng như đêm. Họ được gọi bằng cái tên “tù tự giác”. Không sót một đêm số người “tù tự giác” này mà không nhậu nhẹt, chè chén với cán bộ quản lý trại. Và cũng trong suốt 6 tháng bị giam tôi chứng kiến bọn Lực, Bắc luôn được về nhà. Và chính tôi thấy những sự việc như sau : cán bộ, bí thư Đảng uỷ xã Hoà Quang là Nguyễn Công Báu và chủ tịch Phạm Văn Nguyên thường xuyên đến thăm hỏi ân cần hai tên Lực, Bắc. Hàng tháng có phái đoàn của thị xã đến thanh tra danh sách tù trong trại. Phái đoàn gồm có cán bộ thay mặt toà án, thay mặt VKS và công an thị. Sau giờ thành tra xong lại cờ bạc, rượu chè, có hôm gây gổ đánh nhau trong bàn tiệc. Và điều này nữa, chỉ trừ tù ăn trộm, ăn cắp thì không biết điều thôi, còn các tội phạm khác cái gọi là “biết điều” thì tù thoải mái, tự do đi lại trong trại, không bị giam cùm gì hết.
Tôi là người dân bất hạnh do nhiều nghịch cảnh mà phải nhận nỗi đau này. Tôi đã được đi theo Đảng, theo cách mạng nên trông chờ vào sự sáng suốt của Đảng mà xem xét mặt trái của ban lãnh đạo xã Hoà Quang và thị xã Tuy Hoà, phẩm chất, đạo đức cách mạng ở đâu? Mong Đảng phán xử nghiêm minh.
Tôi cũng là một trong những người chịu nỗi oan, viết thành thư gửi đến công luận để nhờ công luận giúp đỡ. Đồng thời cho tôi được nói lời cảm ơn đến bà con gần xa, các cơ quan chức trách, đến toà soạn Tiền Phong, toà soạn TT Thanh niên.
Kính mong mọi sự giúp đỡ để đưa vụ án Đoàn Thị Thuận từ trong cái mập mờ, lầm lẫn ra ánh sáng công minh, những gì đã là tội phạm thì không được đứng ngoài vòng tội phạm.
Kính thư
Ký tên : Dũng

TRÚC CHI - NHÂN PHẨM MỘT CON NGƯỜI VÀ TÀN BẠO CỦA MỘT THẾ LỰC

TRÚC CHI
NHÂN PHẨM MỘT CON NGƯỜI VÀ
TÀN BẠO CỦA MỘT THẾ LỰC


Chúng tôi nhận được tin đoàn kiểm tra Viện kiểm sát nhân dân tối cao về vụ án Đoàn Thị Thuận và vụ giải toả nhà dân đường Ngô Quyền Thị xã Tuy Hoà (Phú Khánh) đã có kết luận. Kết luận của đoàn sẽ công bố vào ngày 27.1.1989 trước cuộc họp rộng rãi đại biểu HĐND tỉnh, đại biểu đoàn QH tỉnh, các cơ quan chức năng tỉnh và đại biểu đài báo tỉnh, trung ương.
Trong bảy tiếng đồng hồ từ TP Hồ Chí Minh ra đến thành phố Nha Trang cây kim giờ chỉ đúng con số 15 của ngày 26.1.89. Gặp mỗi đồng chí cán bộ quen biết ở đây trên gương mặt đều tỏ ra lo lắng, hồi hộp về cuộc họp ngày mai. Không lo lắng, hồi hộp sao được, 72 ngôi nhà đường Ngô Quyền là điểm nóng của mỗi người hơn sáu tháng nay, nỗi đau về Đoàn Thị Thuận hơn ba năm nay đã thành tiếng kêu cứu của lương tri của mỗi số phận. Hình như ở mỗi người đều nhận ra rằng “nỗi khổ này không riêng của một ai”.
17 giờ chúng tôi được gặp đoàn kiểm tra và nhận giấy mời dự cuộc họp, để nghe báo cáo những kết luận về vụ đường Ngô Quyền. 19 giờ tối nay đoàn dành riêng cho chúng tôi về những kết luận vụ án Đoàn Thị Thuận, những kết luận này vẫn chưa thể báo cáo trong cuộc họp ngày mai. Chiều Nha Trang biển vẫn sáng, cái màu sáng chỉ còn một tuần nữa vào tết nguyên đán. Nhìn các anh trong đoàn kiểm tra chúng tôi thấy màu sáng xuân lấp lánh trên gương mặt và nụ cười thẳng thắn và phúc hậu.

Một hành vi tàn ác cực kỳ nghiêm trọng
Đồng chí Khuất Văn Hiến tiếp chúng tôi trong chiếc phòng nhỏ ấm áp. Một chồng tư liệu, hồ sơ anh để bên kia bàn làm việc của anh. Suốt buổi làm việc với chúng tôi hầu như chỉ bằng trí nhớ một cách tinh tường, kể những kết luận thật cơ bản, anh cũng không nhìn vào tập kết luận đã viết xong để báo cáo với đồng chí Viện trưởng VKSTC. Mái tóc trắng của sự từng trải và giọng nhỏ nhẹ rõ ràng của một người kiểm sát viên cấp cao có kinh nghiệm vững chắc anh vừa nêu vừa khẳng định một vấn đề, một sự việc có sức thuyết phục.
Vừa ngồi vào với chúng tôi, anh Khuất Văn Hiến thông báo ngay điều nghiêm trọng của vụ án Đoàn Thị Thuận là cách đánh, cách tra tấn của những tội phạm. Hơn ba năm nay, nhiều người theo dõi vụ án này đều hiểu một cách chưa thật rõ ràng về việc này, ngay trong toà án sơ, phúc thẩm nhiều chi tiết có đưa ra nhưng cũng rất chung chung. Đồng chí Hiến cho biết, ba tội phạm dùng thước gỗ để đánh chị Thuận đấy không phải là chuyện thông thường. Thời xưa, hồi Mỹ- nguỵ kẻ địch cũng dùng thước gỗ để đánh, để gây cực hình đối với chiến sỹ cách mạng ta, vì đấy là phương tiện là đau tận bên trong cơ thể nạn nhân. Tất nhiên phương tiện đó có quy định thước tất và cỡ. Thước gỗ đánh chị Thuận theo lời khai của hai tên Bắc, Phong tại trại giam cụ thể như sau, chiều dài 64 phân, bề rộng 2 cm 5, bề dày 1 cm 4 có cạnh thật sắc. (Nói đến đây đồng chí Hiến giọng nhỏ lại như chỉ để tôi nghe, tôi biết – trên thước gỗ có ghi hàng chữ “Văn phòng Đảng uỷ”). Theo anh Hiến, phải nói đến đây mới hiểu được cái nghĩa thước kẻ gỗ. Cái thước để làm việc, đặt trên bàn ở cơ quan thì đấy là việc tốt đẹp, nhưng đến khi dùng cái làm việc để đánh đập một nạn nhân thì lại một việc khác hơn nữa dùng cái đó để chà đạp lên một nhân phẩm thì thật tồi tệ quá chừng. Và cũng hơn nữa, trong Đảng ta lại có những đảng viên lại trắng trợn, ngang nhiên bằng hành vi cực kỳ độc ác, đánh một phụ nữ đi đến hơn ba năm nay liệt gần hết cơ thể.
Trong nghề này dùng cạnh của thước đánh vào nạn nhân không bao giờ có dấu, và để lại dấu lâu. Ba tên tội phạm đã khai trước toà xử dùng thước đánh lu bù, đụng đâu đánh đó, nhưng chúng chưa nói ra một điều là hai ống chân hai đầu gối của người chúng đánh có ngón, có huyệt và rất có nghề. Chúng đánh vào những điểm này khó có thể phát hiện dấu, tinh tường lắm thì ngay sau đó mới nhận ra. Điều mà làm chúng tôi suy nghĩ, ngay sau đó chị Thuận trở xuống bệnh viện Bắc Phú Khánh, vậy mà một y sĩ của bệnh viện chỉ trong 15 ngày làm giấy ra viện đến hai lần, gia đình nạn nhân phải nhiều lần nhờ bác sĩ phó giám đốc bệnh viện xin cho nằm lại cũng không được.
Đồng chí nói thêm, ta cứ thử dùng một chiếc đũa đánh vào ống chân mình thật đau, mình sẽ thấy mức kinh khủng như thế nào, vậy mà ở đây ba tên tội phạm lực lưỡng, khoẻ mạnh dùng cái thước gỗ thay nhau đánh vào hai ống chân và đầu gối của chị Thuận trong một thời gian khá lâu. Ta cứ giả dụ, chị Thuận có lấy 150 lọ thuốc thì cũng không để tương xứng với hình phạt này, thật tàn ác quá.
Sau cái đánh là trói, và treo lên. Trước hết, nói đến dây trói. Anh Hiến cho biết, dây trói là loại dây đan chiếu, loại dây này kẻ thù dùng để tra tấn rất có hiệu quả. Dây trói chị Thuận khoảng 70 phân, rất nhỏ, mà tiết diện càng nhỏ thì buộc càng đau và độ riết đến nhức nhối khắp cơ thể. Chúng trói chị Thuận ra sao? Đồng chí Hiến dừng lại thật lâu, hình như anh đang xúc động. Ạnh nói, trong các phương pháp địch tra tấn hay dùng các loại dây này. Kéo hai cánh tay nạn nhân ra sau lưng để buộc. Nhưng ở ba tên công an này không phải như mọi người hiểu, cũng như các báo cáo đã nêu là hai chị Thuận bị trói ngoặc và xách ngược lên trên theo kiểu “cánh én”. Không, không phải như vậy. Vì trói và treo ngược nạn nhân thì nạn nhân có thể từ 10 đến 15 phút không thở được. Nhưng ở đây bọn chúng bằng động tác trói tay mặt bắt qua vai ra sau lưng, tay trái luồn qua hông được buộc ngược lên cùng với tay mặt xách ngược lên. Trói kiểu này tạo một tư thế vai nạn nhân, lưng nạn nhân, và eo hông nạn nhân co khúc không còn thăng bằng, không còn trọng lượng. Đấy cũng là một phần chủ yếu vì sao tay tay trái liệt trước và tay phải đến nay cơ cứng liệt dần. Từ hai tay bị trói ngoặt qua vai qua hông treo ngược lên làm hai bàn chân không chạm đất, dồn trọng lực thần kinh không chỉ huy được. Cách tra tấn như thế này sức đàn ông chịu không quá năm phút, còn phụ nữ thì chịu sao đến 15 giây đồng hồ. Cho nên, ba tên công an đang giữa chừng tra tấn dừng lại ra sân xem bóng chuyền một lát, khi vào định tra tấn tiếp thì thấy chị Thuận ngất xỉu. Cách tra tấn này hết sức dã man là một kiểm soát viên cấp cao qua hàng trăm vụ xem xét đồng chí Hiến chưa từng thấy. Theo đồng chí Hiến, đây là vụ đánh người không chết nhưng cố ý gây thương bằng nhục hình và cực kỳ nghiêm trọng.
Cho đến nay, không phải trong bài “sự thật về một sự thật” của báo Phú Khánh đưa tin, thể trạng chị Thuận vẫn tốt mà đúng như kết luận của trung tâm phục hồi chức năng thành phố Hồ Chí Minh cơ thể nạn nhân liệt lâu dài, mất sức lao động lâu dài. Đến đây chúng tôi im lặng, ngoài kia Nha Trang có vài tiếng pháo nổ. Đồng chí Hiến phát biểu tiếp một vấn đề khác của vụ án này.
Còn ai trốn trách nhiệm trong vụ án này?
- Anh ạ, từ chiếc thước gỗ để trên bàn làm việc của ban lãnh đạo Đảng xã Hoà Quang cũng là chiếc thước gỗ để đánh đập, tra tấn người dân làm tôi nghĩ đến vấn đề trách nhiệm và ai là người có trách nhiệm.
Đồng chí Khuất Văn Hiến gần như dè dặt khi đặt vấn đề trách nhiệm này ra trong phần kết luận. Sự việc tra tấn chị Thuận lại xảy ra tại trụ sở uỷ ban xã. Phòng tra tấn lại bên cạnh phòng chủ tịch xã. Như vậy chắc chắn trong thời gian đó đồng chí chủ tịch có làm việc, và tất nhiên có trách nhiệm trong chuyện này.
Thông thường các tội phạm muốn tránh để mình coi như không có liên quan là tìm cách vắng mặt, hoặc là giao cho người khác nhưng việc sai khiến, chủ trương thì không thể không có trách nhiệm chẳng hạn, Trương Trọng Lực đánh chị Thuận không nhiều, mà hai tên Bắc và Phong hầu như xắn tay áo làm hết, nhưng cách đánh ra sao, tra tấn kiểu gì đều không ngoài Lực. Tội chúng như vậy, trong lần sơ thẩm tuyên án Lực 10 năm, Bắc 8 năm, Phong 2 năm. Vậy mà chúng cũng khiếu nại để giảm án. Đến lần phúc thẩm vẫn xử y án. Và cho đến nay công luận, nhân dân chưa thoả đáng với 20 năm của ba tên tội phạm ấy. Như vậy sự không thoả đáng của nhân dân là có cơ sở. Chúng ta muốn nói đến trách nhiệm đồng chí chủ tịch xã Hoà Quang. Điều chắc chắn chị Thuận được “mời” lên, được gọi lên hay bị bắt lên, đồng bằng chủ tịch không thể đổ cho người khác, hoặc mình không hay không biết gì? Ba tên tội phạm Lực, Bắc, Phong có hai tội bắt giữ người sai pháp luật và đánh người gây thương tích, nhục hình nghiêm trọng thì công bằng trước pháp luật đồng bằng chủ tịch không thể lẩn tránh như trong ba năm qua. Trong việc này cũng giống như trước đây vụ điều tra Nguyễn Công Tuần phải xử 17 năm tù. Đối với trường hợp 10, 8, 2 năm tù của ba tên tội phạm và trách nhiệm của ĐC chủ tịch cần phải xử sao công bằng trước pháp luật. Hơn nữa xét hành vi tội phạm cực kỳ nghiêm trọng. Và những gì sau đó, những ai thiếu lương tâm, hay thiếu trách nhiệm ở cấp này hay cấp nọ, ngành này hay ngành nọ thuộc chức năng pháp luật cũng phải làm sáng tỏ, rạch ròi. Đồng chí Khuất Văn Hiến nhắc lại một lần nữa, khi gặp hai tên Bắc, Phong thì hai tên này đều nói y như nhau “mọi công việc chúng tôi làm đều có lệnh của đồng chí chủ tịch”. Và chúng tôi gần như một ý nghĩ đây là bọn người có thế lực bằng cả một sức mạnh tàn bạo để chà đạp lên một nhân phẩm con người, con người đó lại là người phụ nữ.

Cái chết đang treo trên đầu người con gái.
Sáng ngày 28.1.1989 chúng tôi ra thị xã Tuy Hoà, đến bệnh viện Bắc Phú Khánh. Đây là lần thứ tư, chị Đoàn Thị Thuận đang nằm trên giường bệnh im ắng, nắng xuyên qua cánh cửa chập chờn.
Chị Thuận vẫn nằm bất động, chiếc chăn đỏ cũ đắp nửa thân dưới, mắt nhắm, chị không ngủ hẳn cũng không thức hẳn. Chúng tôi động nhẹ nhiều lần chị Thuận mở mắt, hai con mắt đờ dại cũng không hẳn nhìn chúng tôi, rồi lại nhắm tiếp. Chúng tôi hỏi thường những câu không quá năm tiến nhưng chị Thuận vẫn không nhớ và cũng không nhận ra. Chúng tôi cầm cánh tay mặt bóp mạnh tuyệt nhiên không thấy dấu hiệu gì phản ứng. Chúng tôi đứng thật lâu để xem người chị Thuận có động cựa, dù động cựa rất nhỏ, của sự co giật trên làn da. Điều mà đồng chí Khuất Văn Hiến kiểm sát viên cao cấp đã nhận định với chúng tôi tối hôm qua, theo chị Ngô Thị Phiến người Đa Ngư, xã Hoà Hiệp bệnh nhân nằm cùng phòng với chị chỉ ăn cháo nhưng phải có người cho ăn, còn nói được điều trị gì thì nhớ trước quên sau, nhiều lẩm cẩm như người mất trí. Chị Phạm Thị Phương hộ lý săn sóc chị Thuận một hai năm trước cũng cho biết, trước đây Thuận còn có người đỡ ngồi dậy được, đưa đồ vào tay cầm được, nay thì yếu quá. Cái tuổi của chị đấy là hiện tượng không bình thường.
Chúng tôi nắn lại cố hỏi thử để xem chị Thuânk nghỉ được mấy tiếng trong câu hỏi. Chị Thuận lập bập thật là lâu chỉ nói hai tiếng, trong hai tiếng đó chỉ khoảng 5 giây đồng hồ. Vậy mà lưỡi chị phải tráng qua hết hai môi. Điều chúng tôi xác nhận như đồng chí Hiến khẳng định “không phải chị Thuận liếm môi, vì liếm chỉ là động tác gọn, mà chị tráng môi đấy là hiện tượng lạ”. Đồng chí Khuất Văn Hiến cho biết thêm, anh có một ông bạn nằm bệnh viện Việt Xô Hà Nội, người phục vụ dùng khăn ướt lau ở cổ họng vì đấy là hiện tượng liệt thần kinh và hiện tượng xuất huyết não. Chính vì những hiện tượng này trong người bệnh nhân luôn thấy nóng khô. Đấy là nói trường hợp người bệnh có người phục vụ. Cũng trường hợp trên người bệnh trong khoảng 20 đến 30 giây được người phục vụ lau khăn ướt, với nhiệt độ 80 đến 130. Còn hiện tượng ở chị Thuận cứ 5 giây là trán môi, tức là khô môi không thể gọi là bình thường. Đây là hiện tượng nguy kịch bệnh nhân cần phải được cứu chữa khẩn cấp. Chúng tôi nhận thấy với tình hình điều trị hiện ở bệnh viện Bắc Phú Khánh, bệnh trạng của chị Thuận nên kịp thời chuyển lên tuyến trên và có một phương pháp trị liệu tốt hơn thì mới có hy vọng.
Vì thế trong buổi hôm đó chúng tôi có gặp đồng chí Địch bác sĩ quyền giám đốc bệnh viện để xem bệnh trạng và sự nhận xét của ban lãnh đạo ở đây. Sau đó chúng tôi đặt vấn đề bệnh trạng hiện nay của chị Thuận có nhiều dấu hiệu không tốt và đề nghị bệnh viện Bắc Phú Khánh cần thành lập một hội đồng chuyên môn đầy đủ trách nhiệm để xem xét bệnh trạng chị Thuận ngày 17.12.88 trong đó một vài đồng chí trong ban văn hoá văn nghệ tỉnh không những không những không phải chức năng và cũng không đủ thẩm quyền để kết luận. Khi đã có kết luận bệnh viện Bác Phú Khánh cần có đề nghị cấp có thẩm quyền ở địa phương và trong ngành chuyên môn, đồng chí kết hợp với nguyện vọng của gia đình bệnh nhân đề nghị chuyển chị Thuận lên tuyến trên. Đấy là sự hợp tình hợp lý.
Trước khi ra về chúng tôi đứng trước nạn nhân Đoàn Thị Thuận đang nằm thiêm thiếp trên chiếc giường sắt. Một nỗi lo lắng đau đớn, nếu không kịp thời, không thiện chí, không chút lương tâm thì cái chết sẽ đến gần với chị, với người con gái đang tuổi 28, có đứa con trai đang 6 tuổi, chừng ấy chúng ta sẽ ân hận biết bao.
Và một diều chúng ta, hy vọng nhân phẩm của chị Thuận sẽ được trả lại sẽ được bảo tồn, và thế lực tàn bạo sẽ được phơi bày trong cuộc giám đốc án sắp tới.

Nha Trang ngày 29.1.1989

TRÚC CHI - TIẾNG KÊU DA DIẾT

TRÚC CHI
TIẾNG KÊU DA DIẾT
I

- Làm sao tay cháu được ôm con, cô bác ơi?
Tôi vừa lên khỏi cầu thang phòng ngoại bệnh viện đã nghe câu hỏi lẫn trong tiếng khóc. Một câu hỏi mà sao nghe như tiếng kêu của người con gái trong kia phòng bệnh. Cách bức vách, tiếng kêu ấy cứ vang dội ra làm thành vòng xoáy xoắn ốc, tôi có cảm giác nhức nhối trên thân thể. Đến khi sắp bước vào cửa, câu hỏi thành lời kêu kia như dòng âm thanh oà ra tôi nghe trọn vẹn của một nỗi đau lớn:
- Làm sao tay cháu được ôm con, cô bác ơi?
- Mấy chị, mấy mẹ cũng là những bệnh nhân hàng ngày đến phòng cô gái, nhìn cô gái đang nằm trên chiếc giường sắt, mặc bộ quần vải dày cứng màu xanh của người lính. Nước mắt người nào cũng chảy ướt, hai mắt nhìn vào bàn tay phải, năm ngón mở ra nắm lại như một cái máy của cô gái. Tôi biết bà con tránh nhìn cánh tay kia của cô gái đang bị liệt để xuống giường sát bên hông. Cánh tay kia, hai chân kia, một phần cơ thể đã bị chết. Bà con thì nhìn cô gái và cánh tay còn chút sinh động, còn cô gái thì nhìn bà con như để cầu cứu “Làm sao tay cháu được ôm con, cô bác ơi?”
Tôi ngồi xuống bên cạnh cô gái định hỏi chuyện, nhưng mấy mẹ bảo cô ấy có còn nhớ gì biết gì mà hỏi. Nếu có nhớ thì thì chỉ nhớ đứa con năm tuổi, một vài tuần ông bà ngoại dắt xuống. Con thì ngơ ngác nhìn mẹ rồi hỏi sao mẹ không về, còn cô ấy thì miệng gọi con, cánh tay trái giơ lên định quàng lấy con, nhưng cánh tay làm sao đưa lên nổi. Chỉ còn cánh tay phải ôm lấy con, riết chặt lấy con vừa thở vừa khóc. Đứa con vừa thương mẹ nó lại vừa sợ cánh tay làm nó nghẹt thở. Hai tay nó gỡ cánh tay mẹ ra rồi đứng nhìn khóc theo mẹ. Những lúc ấy cô gái nhìn bàn tay mình đau xót bất lực, rồi hốt hoảng nhìn cánh tay đã chết kia kêu lên thất thanh” - Làm sao tay cháu được ôm con, cô bác ơi?
Từ ngày cô gái chuyển đến bệnh viện Bắc Phú Khánh này, bà con bệnh nhân nghe thành quen câu hỏi, lời kêu cứu nhức nhối, bất lực.
Vào một buổi sáng ngày 8.8.88 chính tôi nghe lời kêu gọi đó ngay trên giường bệnh này. Trước một ngày tôi nghe nhiều bà con quanh cái xóm Lê Thành Phương nói về cô gái Đoàn Thị Thuận bị mấy tên công an xã Hoà Quang chỉ vì nghi người ta ăn cắp mấy lọ thuốc chích heo mà tra tấn, đánh đập thành bại liệt nửa cơ thể. Tôi nghe nhưng chưa tin. Đến khi cô em dâu tôi xuống thăm và có nói “anh Năm nên xuống bệnh viện thăm một cô gái bị công an xã đánh đi đến bại liệt chân tay”. Buổi sáng ấy cơn gió nam của Tuy Hoà cũng dậy sớm hơn. Mấy ngọn cây xà cừ đường Trần Hưng Đạo ào thổi. Cửa sổ chỗ đặt giường cho Thuận nằm ánh sáng chói chang và hầm hập cơn nóng lùa vào như vãi lửa.
Trước đó gần ba năm, sau vụ đánh của tên trưởng công an xã Trương Trọng Lực cùng mấy tên Trịnh Văn Bắc, Trần Minh Phong, chở đi trên một chiếc xe bò đến hai bệnh viện địa phương chữa trị. Nhưng hai bệnh viện khám nghiệm không thấy gì. Đến khi gia đình chở Thuận vào bệnh viện thành phố thì bác sĩ cho biết bệnh nhân đã liệt từ cơ bụng trở xuống cùng với cánh tay trái, không thể nào chữa trị được. Anh Đoàn Cư em trai Thuận cho biết, ngay trên giường bệnh viện thành phố vào một đêm Thuận trở mình bỗng thảng thốt gọi em :
- Cư ơi, sao hai chân chị thế này, hai chân nặng như đá ấy.
Cư véo vào hai chân chị, không nghe chị kêu đau. Cư oà khóc biết một tai hoạ đến với chị mình. Bắt đầu giờ phút ấy Thuận lịm đi, rồi tỉnh dậy hốt hoảng kêu :
- Trời ơi làm sao tôi đi được. Cư ơi làm sao chị xách nước cho mẹ giặt, chị đi làm để nuôi cháu, hở Cư?
Ngày đó, Thuận chỉ mới nghĩ đến việc đi. Là con gái đầu lòng, hồi nhỏ cha mẹ cho ăn học, lớn lên chưa kịp giúp gì cha mẹ, Thuận lấy chồng. Một hai năm sau Thuận có con, chồng ở bộ đội về mang thương tật trở chứng đánh đập, hành hạ Thuận chịu không nỗi, năn nỉ chồng “nếu không thương em nữa thì bỏ em đi, chớ đánh đập tội em”. Chồng đưa đơn, xã cho ly hôn, Thuận về ở cha mẹ. Thuận ra ruộng với mẹ, gánh lúa với em, dắt tay con đi chích thuốc dạo để nuôi sống. Bây giờ chân bị liệt rồi làm sao đi, làm sao giúp cha mẹ, nuôi con nhỏ bốn tuổi.
Bệnh viện Sài Gòn theo tuyến khu vực phải trả Thuận về bệnh viện Quy Nhơn. Xe chở Thuận ra đúng nửa đêm 26 tết âm lịch, gió heo hun hút, trời tối như mực đành phải gửi vào bệnh viện Bắc Phú Khánh. Liền những ngày sau đó nằm trên giường bệnh Thuận vẫn chưa quen hai chân mình bị liệt. Vào những đêm có trăng, cây dương liễu ngoài sân ngã bóng vào giường nằm, Thuận mơ màng thấy mình leo lên cây cau sau nhà để hái buồng cho mẹ. Mẹ đứng dưới cây cứ gọi “cẩn thận nghe con, Thuận”. Thuận leo thoăn thoắt giỏi hơn con trai. Trong giấc mơ Thuận nói xuống với mẹ “con gái Hoà Quang mà mẹ”. Trong mơ Thuận đưa hai chân mình co lên để đạp mạnh cái nài nhưng sao hai bàn chân nặng như đá. Tỉnh dậy, Thuận thở hổn hển, một nửa thân dưới như xác chết. Thuận lại khóc. Thuận lại nhớ mẹ cha đau đớn khôn nguôi: “từ đây con giúp được gì cho cha mẹ, cha mẹ ơi”.
Một năm sau. Một hôm bà Liễu thay chồng đi bộ hơn nữa ngày đường xuống thăm con. Lần nào cũng vậy, vừa bước vào phòng là mẹ sà đến ôm hai chân con gái khóc rấm rức. Thuận nhìn vai áo bà ba đen của mẹ dứt vạt. Hôm đó Thuận vừa mới may được mấy đường chỉ thì ngoài ngõ mấy anh công an vào.
- Mẹ ơi, chiếc áo con chưa khâu cho mẹ, mẹ có bận gì thì đem xuống cho con may tiếp, nghen mẹ.
Thuận vừa nói vừa đưa cánh tay trái ra. Nhưng sao thế này. Cánh tay như không phải của mình, cánh tay cứ nằm yên trên ngực mình. Thuận biết cánh tay mình đã liệt mà mấy hôm trước Thuận cảm thấy tê tê. Thuận thoáng nghĩ nhưng không tin… Bỗng Thuận khóc ngất và bất tỉnh. Bà Liễu nằm nhoài mình trên mình con khóc không ra tiếng. Cánh tay bị liệt của Thuận bà để trên mặt bà. Bà nghe cái lạnh ngắt của bàn tay chết của con gái mình. Bà nghĩ về đời con mà đứt từng khúc ruột. Có một lần bà ngồi suốt đêm với con nói chuyện và việc lấy chồng nếu con gái mẹ hết liệt chân. Thuận nằm ngửa mặt, hai mắt mở trân trân. Những kỷ niệm thời cái tuổi hai mươi, hai mốt người con trai mình yêu, cầm bàn tay mình nóng hổi. Rồi những ngày đầu xuân cùng người yêu leo núi Miếu hái trái dấy, trái dủ dẻ, ngồi dưới bóng cây giông cắn ăn nhấm nhứ. Trưa mùa đông cùng người yêu bơi chiếc thuyền con mũi nhọn trên mương, mùa lụt chảy qua ngang mặt nhà…
Bây giờ chân mang tật, nếu có hết cũng khó lấy chồng. Thuận nghĩ như vậy hưng không nói ra sợ mẹ buồn. Bà Liễu tưởng là con cùng ý nghĩ như bà. Bà cảm thấy vui vui, hy vọng. Vậy mà bây giờ tay con lại bị liệt tiếp. Trời ơi là trời. bà kêu thầm, bà kêu trong tiếng nghẹn ngào, người run run, hay ngực con gái bà rung rung đau đớn, uất ức. Rồi cứ từng chặp hai tay bà Liễu nhăn nheo sờ nắn hai ống chân và bàn tay trái của Thuận, hai ống chân mới ngày nào nguyên vẹn, thon thon và bàn tay mềm mại, mát mẻ đang tuổi con gái.
II
Bà Liễu nhớ mãi buổi chiều hôm ấy vào tháng tư năm 1986 âm lịch. Thuận theo mấy anh công an xã lên trụ sở uỷ ban. Thuận đi đầu không nón, bộ quần áo mặc vừa đi làm về chưa kịp thay. Thuận bước tới cầm tay mẹ lắc lắc, nói với “chút nữa con sẽ về”. Cái bàn tay mềm mại, mát mẻ của con bà quen hơi quen hám từ hồi còn nhỏ. Nhìn theo bước chân thon thon trắng, hai bắp chân đi chạy không biết mỏi, hai bắp chân leo cau giỏi hơn con trai. Thuận đi rồi chiều xuống cũng không thấy về. Nóng ruột quá bà sai con Tiến em gái Thuận chạy lên trụ sở xem sao. Độ chừng chín nồi cơm, con Tiến hộc tốc chạy về, vừa thở, vừa khóc, vừa nói cho mẹ nghe.
Thuận bị nhốt trong phòng công an xã. Đứng ngoài ngoài này nghe rõ tiếng khóc, tiếng thét của Thuận. Tiến chạy vào, cửa phòng đóng kín mít. Đứng ở ngoài nó cứ gọi vào “chị Thuận ơi, chị Thuận ơi”. Rồi Tiến rón rén vòng ra phía sau, nhìn vào lỗ hổng cánh cửa sổ. Nó thấy chị Thuận hai cánh tay bị trói ngoặt ra phía sau giống như người ta bẻ ngược hai cánh gà vắt chéo chồng lên lưng vậy. Anh Phong công an xã xoắn chiếc dây rất nhỏ vào hai bàn tay, tự nhiên chị Thuận bị xách ngược lên khỏi mặt đất. Mới đó chị Thuận bị rút ngược lên cao tới gần sà nhà. Tiếng chị Thuận kêu đau. Tiếng anh Lực trưởng công an xã đứng dưới nói lên “có phải mày ăn cắp thuốc không? Mày nhận đi khỏi chết”. Tiếng chị Thuận ở trên nói xuống “không, tôi không ăn cắp, thuốc chị Trang vợ anh đưa tôi đi bán, tôi không ăn cắp”. Rồi chị Thuận hạ dần dần xuống nhưng hai chân vẫn không chấm đất. Anh Lực, anh Bắc dùng tay dùng chân đánh, đá vào chị. Hình như đánh mỏi hai anh thay nhau cầm một chiếc thước gỗ đánh vào hai chân chị Thuận. Tiếng chị Thuận la “bà con ơi cứu tôi”. Anh Lực bước tới nắm lấy hai chân chị Thuận gác lên song ngang cửa sổ. Cả người chị Thuận một đầu dây treo, một đầu níu vào cửa sổ, bụng cong vòng xuống. Ba anh Lực, Bắc, Phong đứng ở dưới chân mang giày vải bộ đội đá xáng lên bụng chị Thuận. Người chị Thuận oằn lại, tiếng kêu không thành tiếng đứt quãng. Đánh mệt, ba anh mở cửa chạy ra sân xem bóng chuyền. Đến khi ba anh thấy Tiến đứng ở cửa sổ liền quát nạt đuổi về.
Nghe xong bà Liễu vừa đi vừa chạy lên đến trụ sở uỷ ban trời vừa chập tối. Cửa phòng công an mở rộng. Thuận nằm trên chiếc ghế xỉu bất tỉnh. Bọn chúng không cho bà nhào vào ôm con gái. Ngoài cửa chiếc xe bò lịch kịch đến đứng chờ. Bọn chúng khiên chị Thuận ra xe một cách vội vã. Bà Liễu nhào theo gọi “con ơi, Thuận ơi”. Bà chỉ mới sờ được tay được chân Thuận. Bà chỉ mới biết tay chân con gái bà lạnh ngắt.
Vậy mà bây giờ hai chân và cánh tay trái của Thuận không còn nữa. Đến nay bà mới thực sự biết con gái bà không thể nào lấy được chồng. Thế là con bà mất đi một đời. Còn Thuận thì ngay lúc ấy lại nghĩ từ đây mình không thể giúp cha mẹ đang tuổi già, mình không đủ bổn phận làm con. Mấy tháng sau đó, Thuận không còn trí nhớ, kể cả không nhớ bọn chúng đánh mình ra sao, đã nằm bao lâu rồi trên giường bệnh viện. Thời gian như làm đông đặc để còn lại một nỗi nhớ da diết thằng con trai. Đến khi thằng con trai theo ông bà xuống Thuận mới bắt đầu nỗi khao khát làm mẹ, khao khát ôm thằng con vào hai cánh tay. Nhưng nào có được, một cánh tay đâu còn là của chị nữa. Thuận hỏi thành lời như kêu cứu:
- Làm sao tay cháu được ôm con.
Tôi biết bàn chân mà Thuận đòi để đi ra đồng, để leo cau hái trái. Bàn tay mà Thuận đòi để xách nước, vá may cho mẹ và để ôm con cũng chính là lời kêu cứu của cha mẹ Thuận ngay tại phiên toà sơ thẩm. Phiên toà ngày hôm ấy như một biển người. Trong phiên xử không có mặt nạn nhân chỉ có những tên tội phạm đứng trước vành móng ngựa. Toà xử với 20 năm tù cho ba tên vẫn chưa đủ. Khoản bồi thường cho nạn nhân bằng hai tấn gạo vẫn chưa xứng đáng. Đứng giữa biển người ông bà Liễu cứ giập đầu lạy bốn phía bà con xin cứu lấy Thuận đang mất dần tay chân, mất cả sự sống. Một phiên toà mà tiếng kêu, tiếng khóc, tiếng đòi công bằng, công lý động đến đất trời. Ngày hôm đó không khí thị xã Tuy Hoà như trận bão đau đớn và phẫn nộ. Vậy mà ngày trong ngày đầu tiên thân thể Thuận bị liệt thì bốn tháng sau ba tên tội phạm là lượt nhận án vào nhà giam. Tuy hoà lại một lần nữa đập cửa công lý, đập cửa pháp luật, phiên toà phúc thẩm lại tiếp tục xử. Tuy hoà một lần nữa đứng lên bảo vệ cho Đoàn Thị Thuận.
Tháng 8.1988 ngày ấy tôi đến bên giường bệnh của Thuận, trong phòng của Thuận xung quanh ấy cũng chỉ có bà con cô bác. Ngày ấy kêu cứu cho đôi chân cũng chỉ với bà con. Thuận kêu cứu cho cánh tay trái cũng chỉ với bà con. Bà con là mẹ cha, là niềm tin cậy thiết tha trái cũng chỉ với bà con. Bà con là mẹ cha, là niềm tin cậy thiết tha của Thuận, còn các nhà chức trách, kể cả pháp luật, sao như thánh thần ở trên cao mười tầng trời.

III
Mấy ngày đầu tháng mười một năm 1988 tôi về lại Tuy Hoà. Tuy Hoà vừa qua cơn bão số 7, số 8 và nay cơn bão số 9, số 10 rập rình ngoài xa biển Thái Bình Dương. Tôi đi vào phòng bệnh của Thuận. Lần này bà con cô bác Tuy Hoà đến thăm Thuận mà trên giường nằm Thuận thư các bạn đọc gần xa gửi về cho Thuận, an ủi Thuận, chia nỗi đau cùng Thuận. Đến với Thuận lần này mặc dù tôi chưa dám nói ra nhưng tôi tìm cách xem cánh tay phải của Thuận ra sao. May sao bàn tay phải của Thuận đang để ngửa. Tôi đặt vào đó một lá thư của một nhà tu hành thành phố nhờ tôi chuyển cho Thuận. Sao năm ngón tay nằm im bất động. Tôi cúi xuống hỏi “Cháu Thuận cầm xem thư của một vị tu hành gửi cho cháu đấy”. Thuận nhìn tôi hai mắt mở trân rồi oà khóc:
- Tay cháu làm sao cầm được nữa. Làm sao tay cháu được ôm con ?
Thế là cánh tay phải của Thuận tiếp tục liệt. Cách đây ba tháng, cánh tay phải của Thuận còn co giãn, đưa lên xuống. Năm ngón tay mở ra nắm lại. Thằng nhỏ con Thuận xuống thăm mẹ, cánh tay phải của Thuận quàng một vòng qua cổ con, Thuận hỏi nhỏ:
- Mẹ còn một tay quàng con, con có đau không?
Vậy mà bây giờ cánh tay cùng số phận cánh tay trái và hai bàn chân bất hạnh kia không động tĩnh gì. Một bệnh nhân nằm cùng phòng với Thuận cho biết, cách đây một tuần, buổi sáng vừa ngủ dậy chưa kịp đánh răng rửa mặt, Thuận cầm bút viết để luyện những ngón tay. Những ngón tay mà mỗi lần đứa con theo bà ngoại xuống thăm Thuận được sờ sẫm trên mặt, trên mũi và năm ngón tay xoè ra ôm lấy khuôn mặt con. Hôm ấy Thuận đưa cánh tay ra, nhưng cánh tay không theo ý mình. Năm ngón tay mới vừa gượng gạo cầm bút, bỗng cây bút rơi xuống sàn nhà, năm ngón tay cứng như gỗ. Thuận khóc oà lên, rồi khóc tức tưởi. Mấy tháng nay Thuận chỉ còn hy vọng ở cánh tay phải. Cái hy vọng cuối cùng nay cũng mất. Cũng trước đây một tuần đoàn đại biểu quốc hội tỉnh ra thăm cho quà, Thuận chỉ yêu cầu một lần “các chú ơi cho cháu một chiếc xe lăn”. Đấy cũng là yêu cầu cuối cùng, bởi vì cuối cùng tưởng chỉ còn cánh tay phải.
- Làm sao tay cháu được ôm con ?
Đấy là lời kêu của sự tuyệt vọng, tuyệt vọng của một người phụ nữ có con mà không được làm mẹ. Mỗi nỗi đau, nỗi bất hạnh gì bằng.
Ngày hôm sau tôi về xã Hoà Quang trong cơn mưa dầm dề của cơn bão từ phía biển, Vào trụ sở uỷ ban, tôi đứng trước căn phòng công an xã, cửa vẫn đóng kín. Từ trong cái bóng tối căn phòng sao vẫn nghe đầy đủ tiếng kêu cứu của Thuận và những âm thanh tội ác từ cái độc địa của những tên ác ôn và cả những bàn tay bọc nhung ở phía sau vụ án thêm thảm. Tôi cũng nghe đủ phía bên kia phòng đối diện, ngày đó có cuộc họp của uỷ ban để bàn ngày mai đón huân chương anh hùng, cùng lúc phòng bên này ba tên công an tra tấn một người con gái đến tàn phế. Chẳng lẽ niềm vui, niềm vinh dự và hành động tội ác kia cùng một ý nghĩa sao?
Về xã Hoà Quang tôi còn biết được ba tên tội phạm vẫn thường xuyên về với vợ con. Và vợ tên Trương Trọng Lực đang đẻ tháng thứ hai. Chẳng lẽ trong lúc Đoàn Thị Thuận một nạn nhân cứ từng ngày mất dần sự sống, mất dần nghĩa vụ làm con, làm vợ, làm mẹ thì những tên tội phạm kia vẫn được đi về ôm ấp, sinh con đẻ cái, và hưởng lạc như mọi người khác sao?
Chính đứng trên mảnh đất xã Hoà Quang này tôi nghe rõ tiếng kêu cứu, cũng là lời đòi công lý, công bằng của Đoàn Thị Thuận:
- Làm sao tay cháu được ôm con ?

Tháng XI.1988

TRÚC CHI - ĐOÀN THỊ THUẬN : NỖI ĐAU VẪN CÒN ĐÓ

TRÚC CHI
ĐOÀN THỊ THUẬN : NỖI ĐAU VẪN CÒN ĐÓ

1. Các đồng chí đừng tin những gì họ nói về “sự thật”
Lần này ra Phú Khánh để làm việc thêm về vụ việc Đoàn Thị Thuận còn có phóng viên các báo TT Thanh Niên, Tiền Phong. Trong hai ngày làm việc ở uỷ ban tỉnh chúng tôi được biết thông báo về chế độ nuôi, bồi thường vè việc thi hành án của uỷ ban tỉnh, đoàn đại biểu quốc hội đang được thực hiện. Một vấn đề đặt ra, sau bài “Hãy cứu lấy Đoàn Thị Thuận” nay càng cho bạn đọc cả nước rõ thêm. Nhất là khoá họp quốc hội sắp tới, bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng phó chủ tịch quốc hội hứa sẽ đưa vấn đề Đoàn Thị Thuận ra để xem xét.
Hôm đó, 7 giờ sáng ngày 4.11.88, chúng tôi xuất phát từ thành phố Nha Trang ra thị xã Tuy Hoà. Trong đoàn có đồng chí Nguyễn Công Phức cán bộ chuyên viên nội chính uỷ ban tỉnh, đồng chí Ngô Văn Kiếm thư ký đoàn đại biểu quốc hội tỉnh và một phóng viên báo Phú Khánh. Gió nhẹ, nắng sáng, biển vỗ dưới chân đường nhựa. Xe phóng nhanh không thật êm lắm. Qua khỏi Đèo Cả, ngọn núi Nhạn Tháp cái chớn mờ ảo đang hiện ra phía trước. Gió sóng sông Đà Rằng lồng lộng thổi lạnh tận mặt tê nhột.
Xe vừa dừng trước cửa trụ sở uỷ ban thị xã, nhiều bà con đã chờ ở đó ùa đến hỏi chúng tôi có phải đoàn nhà báo Thanh niên, Tiền phong hay đoàn đại biểu quốc hội, đoàn uỷ ban tỉnh về việc Đoàn Thị Thuận. Một bà con bước đến tận xe cho biết, ở ngoài này (Tuy Hoà) sau bài kêu cứu Đoàn Thị Thuận thì có nhiều nguồn tin phao rằng báo Thanh niên, Tiền phong viết không đúng sự thật. “Sự thật” là Thuận có bị đánh nhưng không bị liệt, vì trúng gió mà bị liệt. Ngay từ đầu Thuận được xã và thị xã chăm sóc chu đáo cho đến nay Thuận vẫn béo tốt, hồng hào. Sau ngày xử, những tội phạm thi hành án nghiêm chỉnh không có gì sai sót. Khi xe sắp lăn bánh nhiều bà con níu vào thành xe nói thật to như để căn dặn:
- Các đồng chí đừng tin những gì họ nói về sự thật.
Thật tình nãy giờ ngồi trong xe chúng tôi thật đau đớn về cái “sự thật” của họ. Cái sự thật nào bằng một chứng nhân đang nằm trên giường bệnh gần ba năm đau đớn và bất hạnh kia. Chẳng lẽ một tội ác sờ sờ ra đó, đã thành án ra đó, nỗi đau và tiếng kêu cứu của bà con cả nước hơn mấy tháng nay chẳng lẽ trở thành một “huyền thoại sự thật” mà nay họ cố để bao che, tiếp tục cái ngôn từ duy nhất của họ không ngoài “sự thật” – Và một ngôn luận chính thức ở đây cũng thành cái mỹ từ hàm chứa sự thật mà giả của tên gọi “sự thật về một sự thật”. Đoàn Thị Thuận là sự thật, là chân lý không thể nào chối cãi và lật ngược được. Những điều bà con thị xã vừa căn dặn chúng tôi, đấy là một sự thật hùng hồn.
2. Cho cháu một chiếc xe lăn, có được không chú?
Chúng tôi đi thẳng xuống bệnh viện Bắc Phú Khánh. Trên đường Trần Hưng Đạo gặp nhiều bà con đi hai bên đường nhìn xe nói với nhau : “đại biểu các tỉnh đến thăm Đoàn Thị Thuận đấy”. Qua khỏi sân cát cũng vào lúc cái nắng sắp trưa vào gay gắt. Chúng tôi vào phòng thấy Thuận nằm nghiêng khóc rưng rức. Đứng bên giường, một chị cán bộ phụ nữ trong đoàn đại biểu xã Hoà Quang tay cầm mấy tờ giấy bạc trông có vẻ lúng túng. Chúng tôi cũng nhìn thấy trong đoàn có phóng viên báo Phú Khánh, anh Phan Thanh. Chúng tôi hỏi mới biết Thuận không chịu nhận tiền của đoàn đại biểu xã Hoà Quang. Từ sáng đến giờ đoàn đại biểu năn nỉ nỉ mấy Thuận cứ lắc đầu và chỉ khóc. Một người nào đó đứng ngoài cửa nói vào “gần ba năm nay xã có đến với Thuận đâu, bây giờ bảo cô ấy nhận”. Và cũng chính đồng chí Thọ, phó chủ tịch xã Hoà Quang, chiều hôm đó nói với chúng tôi tại trụ sở uỷ ban xã, cách đây ba năm chúng tôi có đến cho quà, nhưng Thuận không lấy, từ đó chúng tôi ngại không xuống thăm cô ấy nữa. Bà cụ Hậu ở xã biết được chuyện này đã nói với nhiều người : “Con Thuận không lấy là phải, vì lấy quà của người đánh mình ăn sao vô”. Gần ba năm nay Thuận chỉ với chiếc giường sắt, mặc bộ quần áo mà bộ đội, ngày ăn hai bữa cháo, thỉnh thoảng gia đình xuống thăm, nhà nghèo không tiền, không gạo, xuống nhiều thêm tủi, thương con để bụng biết làm sao?
Thấy chị đại biểu tay cầm tiền vẫn đứng đó, bà con có lòng thương cũng thấy ái ngại. Hôm đó chúng tôi khuyên Thuận, bà con có lòng thương thì nhận. Thuận nghe ra và cũng chỉ nói mấy tiếng : “cháu xin cảm ơn”. Chúng tôi cầm mấy tờ bạc từ trong tay chị cán bộ xã Cuốcúi xuống hỏi Thuận có nhớ tôi là ai không. Thuận nhìn tôi hai mắt bỗng đờ đẫn dài dại rồi lắc đầu, miệng lập bập : “Cháu không nhớ”. Cách đây bốn tháng (8.8.1988) tôi ngồi bên giường bệnh này và hỏi chuyện Thuận, từng chặp. Thuận quên, Thuận ngất – Và ngay ở đây tôi kê bằng đầu gối viết bài “Hãy cứu lấy Đoàn Thị Thuận”. bây giờ Thuận vẫn thiếu trí nhớ và bàn tay phải có triệu chứng như bàn tay trái kia. Cũng hôm đó thấy cần có một tấm hình về Thuận, tôi liền bương bả chạy lên người bạn làm thơ, hiện là chánh văn phòng uỷ ban để nhờ cho người chụp. Nhưng rồi người ấy từ chối không một lời đáp lại. Bây giờ trông sức khoẻ của Thuận có nặng nề day trở thật khó khăn. Nhưng mỉa mai thay có nguồn tin tung ra về sức khoẻ Thuận : “tinh thần tiếp xúc minh mẫn, không có biểu hiện rối loạn chức phận về tâm thần, chưa có hiện tượng teo cơ và phù, phát triển như vậy là cân đối và bình thường …”. Tôi được báo Tiền phong vừa cho đăng văn bản giám định thể trạng Đoàn Thị Thuận sau khi bị công an xã Hoà Quang đánh thành thương tật của trung tâm chấn thương chỉnh hình thành phố Hồ Chí Minh là “cơ thể bại liệt lâu dài”. Từ chỗ liệt hai chân, đến tay trái nay bắt đầu có triệu chứng các ngón ta phải. Đây không phải là điều chứng minh sự thật của thể trạng nạn nhân hay sao?
Một chút yên lặng, bỗng Thuận hốt hoảng nhìn chúng tôi hỏi”
- Chú ơi, cháu sắp phải chuyển đi xa để nằm hay chữa trị, có phải không chú? - Chúng tôi thoáng nghĩ, lại một tin gì của “họ” đến với Thuận. Chúng tôi định nói một vài điều để Thuận an tâm thì giọng Thuận như kêu lên, nước mắt ràn rụa:
- Các chú ơi, cháu chỉ mong nhà nước, làm cho cháu một chiếc xe lăn để cháu đến với con, đến với bà con. Cháu thèm đi lắm.
- Lúc này nhiều người ngồi trong phòng nghe Thuận nói đều khóc. Bà con khóc vì nạn nhân yêu cầu cho mình sao mà ít ỏi, nhỏ nhoi, sao mà tội nghiệp, trong khi đó công lý và pháp luật thì chưa đền bù xứng đáng về quyền sống của một con người cho Thuận. Chẳng lẽ ba năm nay nỗi khắc khoải chờ mong của Thuận đã hết hy vọng, đã mất niềm tin rồi sao? Ai làm mất niềm tin ấy đối với Thuận?
Ngày hôm sau chúng tôi trở lại với Thuận thì thấy trên giường nằm nhiều lá thư để mở cửa bà con các nơi Hà Nội, Hải Phòng, Yên Bái, Nghệ An, Đồng Tháp, Minh Hải, Đà Nẵng, An Giang, Tuy Hoà, Nha Trang, mười quận thành phố Hồ Chí Minh… Chúng tôi thấy gương, mặt rạng rỡ và nụ cười trên môi tái nhợt của Thuận làm chúng tôi cũng vui lây.
Cách đây bốn tháng, chúng tôi gặp chỉ thấy Thuận khóc, tuyệt vọng. Bây giờ Thuận vui, hy vọng trong niềm an ủi, động viên của bà con gần xa. Một lần nữa, mỉa mai thay, có người lại đưa tin “Chị Thuận nhận được những thông tin gây xúc động mạnh mẽ về mặt tâm lý, không có lợi cho quá trình điều trị”. Chẳng lẽ đấy là sự thật hay là sự xúc phạm đến những tấm lòng từ thiện của bà con? Cũng ngày hôm đó nhiều bà con trong thị xã Tuy Hoà đến thăm ngồi trong phòng bệnh của Thuận, người cho mấy trái cam, mấy hột gà, mấy trái chuối vừa chín. Bà con vừa nói chuyện vừa bóc vỏ trái cây cho Thuận ăn. Thuận vừa ăn chậm rãi vừa nghe chuyện xa gần của bà con.
3. Trụ sở uỷ ban xã hình lưỡng long
Đúng 1…(bản gốc bị mất chữ số này) giờ 30 xe chạy từ đầu cầu song Đà Rằng ra ngã ba quốc lộ 1 rẽ lên xã Hoà Quang. Com đường lỗi lõm nhiều ổ gà, một vài chiếc xe ngựa lóc cóc chạy, thỉnh thoảng chồm lên làm khua dòn dả tiếng lục lạc. Cách trụ sở xã đột ngột xối xả cơn bão số 10 ập xuống. Xe vào sát hiên đã thấy nhiều người trong uỷ ban đứng chờ chúng tôi. Chúng tôi được đưa vào phòng khách cuối dãy căn nhà trụ sở, bàn gỗ, ghế xa long nệm khá khang trang. Đồng chí Nguyễn Văn Nguyên chủ tịch xã , đồng chí Thọ phó chủ tịch xã ngồi tiếp chuyện với chúng tôi. Đồng chí Nguyễn Công Phức nói rõ chúng tôi cần tìm hiểu thêm vụ Đoàn Thị Thuận cách đây ba năm và hiện nay uỷ ban thực hiện thi hành án ra sao. Đồng chí Nguyên nhìn chúng tôi một lượt, bộ ria trên môi dày đen nhánh của anh động đậy. Cuốn sổ trong tay anh mở sẵn ra, việc gì cần trả lời anh đều có ghi trong ấy. Anh trình bày một lượt, có quên điều gì quay lại hỏi để đồng chí Thọ trả lời bổ sung.
Hồi xảy ra vụ Thuận, Nguyên là phó chủ tịch phụ trách kinh tài, Thọ phụ trách phân phối lưu thông chi nên khi hỏi việc ai ra lệnh bắt Thuận, việc ba tên công an tra tấn đánh đập, và việc đưa Thuận đi bệnh viện để cấp cứu hai anh đều trả lời là mình không rõ lắm. Việc chị Nguyễn Thị Trang giữ tủ thuốc thú y, khi kiểm kê thấy 150 ống thuốc chích heo, hỏi Trang, Trang đổ là Đoàn Thị Thuận lấy. Thời gian mất thuốc thì Thuận trong diện giảm biên chế, uỷ ban cho về được mấy tháng. Mặc dù lúc còn làm, Thuận giữ tủ thuốc dân y, vậy mà ở đây vẫn nghi là Thuận ăn cắp. Công an khám nhà Thuận thấy còn 50 ống thuốc. Hỏi Thuận, Thuận nói của chị Trang đưa bán, lời chia đôi. Đến khi công an bắt lên trụ sở tra hỏi Thuận vẫn một mực nói của chị Trang đưa bán, lời chia đôi.
Ngồi ở phòng đang làm việc, chúng tôi nhìn lên phòng đối diện thấy ngoài cửa treo tấm bảng “phòng công an”. Đây là nơi mà ba tên công an suốt một buổi chiều, buổi tối giam cầm, tra tấn, đánh đập Đoàn Thị Thuận. Theo lời khai của nhiều người trong phiên toà xử, Thuận bị trói ngoặt hai tay ra sau lưng xách ngược lên ót, theo kiểu trói cánh én. Từng chặp đều đặn dây rút kéo Thuận lên sà nhà, rồi hạ xuống. Đứng ở dưới ba tên Lực, Bắc, Phong dùng thước bảng to, gỗ bự đánh mạnh vào chân, vào bụng, hai mạn sườn nạn nhân. Đánh mỏi, ba tên công an bắt hai chân Thuận gác lên song ngang cửa sổ, người nạn nhân vòng cong như chiếc võng. Đứng dưới này Lực, Bắc, Phong chân đang mang giày, dép đá xáng vào bụng, vào eo lưng Thuận. Mỗi lần đánh đá tên Lực trưởng công an hỏi:
- Mày phải nhận là ăn cắp thuốc thì khỏi chết. Có nhận không?
Mặc dù rất đau, rên rất dữ nhưng Thuận cũng ráng nói:
- Tôi không ăn cắp, thuốc của vợ anh lấy đưa cho tôi.
Trước sau Thuận vẫn không nhận, ba tên lại đánh đá, kéo ngược lên thả xuống. Đánh mỏi, ba tên công an để nạn nhân đó, khép cửa lại, chạy ra sân chơi, xem bong chuyền. Hết chơi, xem lại đánh tiếp, đá tiếp cho đến khi nạn nhân ngất xỉu.
Chúng tôi nhìn ra sân, sân đang mưa lớn, cỏ lên xanh ngắt, hai cây cột gỗ để treo lưới chơi bóng chuyền bên cây cột cờ vẫn còn đó. Cây gấm phía ngoài cửa sổ rung một đợt gió lạnh. Chúng tôi quay lại hỏi hai anh :
- Trong khi ba tên Lực, Bắc, Phong ra sức tra tấn Thuận thì các anh, và uỷ ban đang làm gì?
- Đang họp để ngày mai xã đón huân chương anh hùng.
- Các anh họp ở đâu?
- Họp ở ngay phòng này, phòng mà chúng ta đang ngồi đây.
- Phòng bên kia Thuận đang bị tra, đánh, la hét các anh bên này họp có nghe gì không?
Dừng lại một chút, chúng tôi nghĩ bụng, à thì ra, lúc các anh chuẩn bị đón niềm vui, niềm vinh dự thì bên kia phòng người ta đang làm một việc rất nhục hình chẳng lẽ đó cũng là niềm vui, niềm vinh dự sao? Rồi chúng tôi lấy mắt đo hai phòng cách nhau không quá mười lăm thước. Hai phòng được thiết kế nhô ra tạo dáng lưỡng long cân đối khá đẹp, nghĩa là như hai chiếc đầu rồng vươn ra phía trước, ngoài kia một cánh đồng mênh mông dưới chân dãy núi Miếu nhấp nhô lượn song. Khoảng cách hai phòng không xa nhưng sao nhiều người họp bên này lại không nghe gì tiếng kêu la của một nạn nhân phòng bên kia? Nhưng điều các anh vẫn công nhận Đoàn Thị Thuận đang bại liệt hơn nữa cơ thể là do bị đánh đập, tra tấn gây ra. Đây là thứ tội ác không có tính người, cái thứ tội ác khát máu và cuồng dại mà ba tên công an phải chịu tội. Hôm phiên toàn xử sơ thẩm và phúc thẩm tội ác được nêu ra lòng người căm giận, trời đất oán hờn, cỏ cây uất nghẹn. Hôm ấy tiếng người kêu, người thét đòi ba tội nhân phải đền tội đích đáng. Tiếng kêu la ấy mà ai đó nếu nhẹ tay, lõng tay là không công bằng, là thiếu công lý, là có tội với loài người. Hay một lời bào chữa, một lời bênh vực cho ba tội phạm kia là sự vi phạm điều thiện, là xúc phạm đến lương tri con người.
Cho nên sau mấy tháng xử ba tên tội phạm mới bắt vào tù thì đã hàng trăm người lên tiếng phê phán pháp luật không nghiêm minh. Hay khoản bồi thường của ba tên tội phạm xử lần sơ thẩm trị giá 2 tấn gạo. Đến khi ba tên tội phạm bồi thường cho gia đình nạn nhân 43.000 đồng thì sự phản ứng của bà con dữ dội – nghĩa là bà con không chấp nhận cái thứ bồi thường theo kiểu bố thí đó. Anh Đoàn Cư thay mặt gia đình không nhận số tiền bồi thường theo kiểu bố thí đó là theo nguyện vọng của bà con “đừng có chấp nhận”. Đấy là chưa nói đến việc ba tên tội phạm đang ở tù tự nhiên lại được về nhà. Ngay bà con trong xóm, ngoài xóm biết được không chậm giây phút liền đi gõ cửa pháp luật. Vậy mà ba tên tội phạm vẫn thỉnh thoảng được về nhà, riêng tên Nguyễn Trọng Lực được về nhà vợ Lực đẻ đến tháng thứ hai. Phải chăng đó là “tranh thủ” như một “sự thật” của một nguồn tin đã đưa để định bào chữa “do lao động ở ngoài thỉnh thoảng họ có tranh thủ ghé về thăm nhà”. Một số bà con địa phương không hài lòng và cho rằng trại giam quản lý phạm nhân còn lỏng lẻo.
Hay là khi đặt vấn đề bồi thường cho gia đình nạn nhân, khi chúng tôi vào thăm Đoàn Thị Thuận ở bệnh viện Bắc Phú Khánh hồi tháng 8.1988 đồng chí nữ bác sĩ Xuân Lan người tiếp nhận bệnh nhân đưa từ thành phố Hồ Chí Minh ra vào đêm 26 tết năm 1986 có nói “gần ba năm nay bệnh viện nuôi Thuận bằng tiền của bệnh viện và tấm lòng thương yêu nạn nhân của hộ lý, y tá …ở đây. Nhiều lần bác sĩ Xuân Lan làm tường trình lên ban giám đốc Sở Thương binh Xã hội để có khoản kinh phí nào đó nuôi nạn nhân Đoàn Thị Thuận. Và cũng chính hôm đó đồng chí Minh giám đốc bệnh viện nói: “Lẽ ra trong gần ba năm bệnh viện chúng tôi chăm sóc thuốc thang và điều trị cho nạn nhân bằng tiền bồi thường của tội phạm. Trong khi đó gia đình của tội phạm xin đủ mọi cớ không chịu nộp đủ tiền bồi thường theo án xử cho nạn nhân”.
Hôm về thôn Hạnh Lâm để thăm nhà Thuận, ông cụ Văn người chăn vịt hợp tác xã nói với chúng tôi : “Bà con chúng tôi đã nhiều lần lên uỷ ban xin bắt nhà tên Lực, Bắc, Phong phải chạy đủ dù là bán nhà, bán đất để nộp bồi thường cho cô Thuận. Nghe gia đình họ nói, họ kêu vì nghèo không đủ để nộp, bà con chúng tôi tức lắm. Nghèo sao lại đánh người, hại người, nghe họ rên rỉ cho gia đình mình có công với cách mạng, bà con chúng tôi không chịu được. Chẳng lẽ vì gia đình có công với cách mạng nên không tôn trọng pháp luật sao? Nếu cùng lắm nhà không có gì bồi thường thì toà án xử lại, tăng án thêm cho phạm nhân chớ”.
Quan điểm của nhân dân thật rõ ràng, thật dứt khoát, không lập lờ, không biện hộ, cũng không thương giả, giận giả. Vậy mà một nguồn tin trên một tờ báo lại đứng ra gần như thanh minh cho những tên tội phạm kia ấy là lao động chính của gia đình. Từ ngày “lao động chính” ấy đi tù gia đình rất khó khăn, nheo nhóc. Rồi họ viện ra nào uỷ ban xã phải cứu trợ, toà án tỉnh phải xác minh, toà án nhân dân tối cao phải xin ý kiến, thường trực tỉnh uỷ phải đứng ra giải quyết, ông bí thư tỉnh uỷ về thăm xã …Hình như họ đưa ông này bà nọ, đủ cơ quan các cấp để gia đình phạm nhân có cớ không bồi thường. Còn tệ hơn các nguồn tin kia bằng lối mô tả cảnh nghèo túng thiếu của từng gia đình bị cáo, vợ mỗi bị cáo xanh xao, rách rưới, con mỗi bị cáo không còn cái tuổi hồn nhiên lẽ ra các cháu được hưởng sự hồn nhiên trong trẻo của lứa tuổi. Hình như họ đưa ra bằng thứ văn chương lâm ly sướt mướt để đánh vào tình thương, đánh vào sự mủi lòng nhẹ dạ ở bạn đọc để cả ở pháp luật để rồi đi đến vấn đề mà có dịp thuận lợi để nêu : “nếu thực hiện cưỡng chế thi hành bản án (tức bồi thường) thì chỉ còn biện pháp niêm phong nhà và phát mãi nhưng chưa hẳn đã đủ số tiền thi hành án”. Điều mà người đọc muốn hỏi hai phóng viên, đưa việc ấy ra, khẳng định vấn đề mình đã nói nhằm để làm gì, đứng về phía nào để nhìn nhận vấn đề - và chẳng lẽ đấy là sự thật?
Tất cả những vấn đề nói trên chúng tôi đều muốn hỏi, muốn biết thái độ đối xử, thực hiện của uỷ ban xã Hoà Quang như thế nào. Lúc ấy anh Nguyên, anh Thọ tỏ ra hết sức thành thật, mặc dù hồi đó các anh là phó chủ tịch không có trách nhiệm với vấn đề này, vậy mà cho đến bây giờ sau vụ Đoàn Thị Thuận các anh cũng cảm thấy lo sợ quá. Hai anh nói cách đây không lâu thường vụ và uỷ ban xã có ra một nghị quyết là từ đây chúng ta không được đụng đến nhân dân. Chúng tôi hỏi lại đụng là như thế nào, có phải là không đánh bà con nữa phải không. Các anh không trả lời, chỉ nhìn chúng tôi im lặng. Chúng tôi cũng hiểu ngầm, từ vụ chị Thuận trở về trước các anh ở đây cũng thường “đụng” với bà con là chắc.
Trực nhớ sang một việc khác, chúng tôi hỏi :
- Ai là chủ tịch xã hồi ấy?
- Anh Phạm Văn Ánh
- Anh Ánh hiện nay còn công tác xã không?
- Anh Ánh là phó bí thư thường trực.
Chúng tôi thoáng nghĩ, sau vụ chị Đoàn Thị Thuận chủ tịch được lên chức. Trong khi chờ Phạm Văn Ánh đến chúng tôi tranh thủ vào thăm nhà ông bà Đoàn Liễu, cha mẹ của Đoàn Thị Thuận.

4. Con tôi bị họ đánh ra nông nỗi này có phải chỉ vì cha nó tham gia cách mạng.
Xe chúng tôi trở ra chạy một đoạn đường dọc chân núi Miếu, rồi rẽ tay mặt bánh xe lăn thật chậm trên những con đường bùn, cỏ ướt át giữa cánh đồng đang mưa. Nhà ông Đoàn Liễu nằm ngoài bìa xóm cạnh con mương lớn nước ngập đục ngầu. Chúng tôi đi vào, cả nhà đang vun lúa ở chái hiên. Ông bà Liễu biết chúng tôi ở tỉnh về vừa khóc vừa nghẹn ngào. Cũng vẫn giọt nước mắt ấy, cách đây ba năm trong phiên toà xử sơ thẩm ông bà Liễu quì lạy người xử, rồi giập đầu lạy bốn bên bà con dự phiên toà xử để kêu cứu con gái mình. Người đông nghịt, tràn ngập trong ngoài hội trường phường 4 cuồn cuộn, nhốn nháo như sôi. Phóng viên báo chen lấn đi vào phải giơ thẻ nhà báo lên vừa thét để xin lối đi. Người ở trên cây, ở dưới sân, ở ngoài đường, ngồi trên xe, cõng lên vai đều nhìn thấy rõ nước mắt cha mẹ già của nạn nhân. Bây giờ ngồi trước mặt chúng tôi ông bà Liễu gần như thẩn thờ, mỏi mệt, thậm chí những giọt nước mắt chúng cứ đọng mãi trong mắt không chảy nổi ra ngoài. Ba năm nay, con gái tàn phế nằm bệnh viện, đứa cháu ngoại sáu tuổi con chị Thuận chạy về níu áo ông bà đòi trả lại mẹ, đứa con trai là anh Đoàn Cư (em Thuận) đang học đại học ở Sài Gòn phải bỏ về để chạy lo giúp chị nhưng bất lực. Bấy nhiêu đó thôi cũng làm ông bà suy sụp mất hết niềm tin.
Nhìn cảnh nhà ông bà già thật ái ngại, lo lắng. Chúng tôi hỏi ông bà Liễu về khoản tiền bồi thường toà xử lần thứ nhất, ba tên tội phạm phải đền 120.000 đồng tính bằng hai tấn gạo giá hồi ấy. Đến khi toà án tối cao xử lần thứ hai, tội nhân phải đền 240.000 đồng bằng bốn tấn gạo lúc bấy giờ. Vậy từ ấy đến nay việc thực hiện đền bù đã đến đâu. Ông Liễu cho biết, sau ngày xử đúng một năm gia đình Lực, Phong có mang 43.000 đồng đến đưa, nhưng ông không nhận. Ông không nhận là đúng, vì khoản bồi thường để nạn nhân được sống, được nuôi con, nay đưa lắt nhắt, khi có khi không thì không thể được. Đây là nói khoản tiền tội nhân đền mà toàn án xử bằng giá bốn tấn gạo là hết sức vô lý, chẳng lẽ nạn nhân ăn hết 4 tấn gạo kia rồi hết, rồi chết sao?
Chúng tôi hỏi bà Liễu, nghe nói gần đây uỷ ban xã có kế hoạch giúp đỡ, gia đình có bớt được túng bấn không? Bà Liễu lau nước mắt sụt sùi:
- Họ nói vậy chớ có giúp đỡ gì. Tiền bồi thường gần ba năm nay còn chưa có. Mới đây thôi, con Tiến (em chị Thuận) có bỏ ra tám ngày công để xuống bệnh viện nuôi chị, vậy mà họ cũng bắt trừ công điểm, gây nhiều khó khăn cho gia đình.
- Gặp ông bà Liễu chúng tôi muốn biết ba tên tội phạm kia từ trước có thù oán gì với ông bà không để đến nỗi chỉ vì 150 lọ thuốc nghi cho Thuận rồi đánh đập, tra tấn đến tàn phế như vậy. Ông Liễu ngồi im, hình như có một điều gì đó ông chưa dám nói, vì đi với chúng tôi có người của Uỷ ban theo. Rồi như chợt nhớ ra, ông Liễu chậm rãi nói, nhà ông không thù ai, không xích mích ai. Vậy mà khi họ bắt Thuận lên anh Đạt công an xã bước ra đánh đầu tiên. Nói đến tên Đạt chúng tôi vụt nghĩ, lại một nhân vật, một tài liệu mới có liên can vụ án nữa sao?
Ngoài sân vẫn mưa, gió từ ngoài thốc vào làm lật mất tờ tranh ố cũ, mấy tấm bằng khen đã ố cũ treo trên vách. Chúng tôi quay sang hỏi ông Liễu hồi chống Mỹ và sau này làm công tác gì. Ông Đoàn Liễu ngồi hai bàn tay chắp lại để trên đầu gối, giọng chậm rãi, miễn cưỡng, thật thà cho biết, ông làm tiếp tế cơ sở, nuôi giấu cán bộ, sau giải phóng làm công tác thi đua trong uỷ ban được mấy năm. Nhìn ông tầm thấp, chậm chạp làm chúng tôi nghĩ tới Thuận người con gái đầu lòng giống ông như tạc.
Trước khi ra về chúng tôi hỏi anh Đoàn Cư, hiện nay chị Thuận được nhân dân cả nước quan tâm cứu giúp, uỷ ban và HĐND tỉnh có kế hoạch, có thông báo chạy chữa để phục hồi chức năng, riêng gia đình có yêu cầu gì thêm. Anh Cư đúng dậy nhìn hết chúng tôi một lượt, môi mấp máy rồi bật thành tiến khóc. Ông bà Liễu cũng oà khóc theo. Tiếng khóc trong gian nhà ấm nghe thật thương tâm. An cư nói trong tiếng khóc :
- Gần ba lăm nay cháu chạy đi gõ cửa các nơi, nhưng chị cháu vẫn im lặng chịu tàn phế một cách oan ức trên giường bệnh viện. Gia đình cháu đội ơn báo Tiền Phong, báo Thanh Niên đã kêu cứu. Báo là người giải oan cho chị cháu. Cháu ngàn lần đội ơn.

Bà Liễu bước đến bên chúng tôi lấy ống tay áo lau nước mắt :
- Nhà tôi có làm gì ác với họ mà sao con tôi lại chịu tàn phế oan uổng. Hay vì con tôi bị họ đánh đến nông nổi này là vì cha nó tham gia cách mạng. Trời ơi là trời …
Bà Liễu lịm trong tiếng khóc ngất. Chúng tôi chào ra về. Ông Liễu theo ra hai tay cứ chắp lại vái vái chúng tôi. Giọng ông Liễu trầm trầm, chúng tôi nghe rõ từng tiếng “xin cảm ơn các bác, tôi xin lạy trời lạy đất đền ơn”.
Trên đường trở ra uỷ ban xã, một ông cụ người hàng xóm theo chúng tôi ra đường bỗng níu lấy chúng tôi hỏi: “Không chỉ thằng Lực, thằng Bắc, thằng Phong đánh cô Thuận đâu. Ông giữ kín cho tôi, vì họ còn ở đây. Ông Ánh chủ tịch không hiểu sao lại không liên can. Hồi đó, bà con xã chúng tôi đã đặt thành vè về ông Ánh và các ông khác nữa đấy”.
Về đến trụ sở đã thấy đồng chí Phạm Văn Ánh ngồi chờ trong phòng khách. Sau khi nghe chúng tôi hỏi, hồi ấy anh là chủ tịch có ra lệnh bắt chị Đoàn Thị Thuận lên trụ sở không? Bọn tội phạm đánh đập tra tấn chị Thuận anh có biết không? Và sau vụ tra tấn anh có báo cáo cho bí thư và chủ tịch thị xã biết không? Nói chung, Phạm Văn Ánh đều trả lời một cách ngập ngừng rằng anh cũng không còn nhớ nữa. Ngay lúc ấy, chúng tôi muốn nhắc lại trong phiên toà xử sơ thẩm Nguyễn Trọng Lực khai mọi hành vi đánh đập, tra khảo Đoàn Thị Thuận đều làm theo lệnh của chủ tịch. Như vậy, về mặt pháp luật cũng như nguyện vọng của nhân dân nếu ai có liên can, hoặc có trách nhiệm không thể đứng ngoài vành. Đã là pháp luật phải công minh. Thư của nhiều bà con ở phường 2 thị xã gửi cho chúng tôi nói rõ: “Bất cứ ai có liên can trong vụ án Đoàn Thị Thuận mà để “thất thoát” là đồng loã, là tội phạm, phải lôi ra cho hết. Dù là ba năm hay mười năm đi nữa cũng phải truy bắt để sao cho pháp luật đúng nghĩa “lưới trời thưa mà không lọt” chứ không phải như một nguồn tin trên một tờ báo nói “bây giờ không phải là lúc đặt lại vấn đề khi công an xã Hoà Quang đánh chị Thuận, ai là bí thư, chủ tịch tỉnh Phú Khánh, ai là bí thư, chủ tịch thị xã Tuy Hoà …”. Có phải đây là lời biện hộ, hay muốn xoá nhoà pháp luật.
Gần bảy giờ tối chúng tôi từ giã xã Hoà Quang ra về. Đường trở lại thị xã chìm trong màn mưa to gió lớn. Đèn pha xe quét sáng thấy rõ vòng cung núi Miếu ôm gọn Hoà Quang trong cánh tay khổng lồ. Từng con đường, từng hẻm núi, từng cánh đồng gợi lên gương mặt anh hùng trong thời kỳ chống Mỹ của xã Hoà Quang. Nhưng nay trong vụ việc Đoàn Thị Thuận, mười bảy nghìn người dân với hai vụ lúa năm trù phú mang một nỗi đau chung – nỗi đau vì một con người quê hương, một công dân xã hội chủ nghĩa Việt Nam xúc phạm một cách ghê gớm.

5. Trong căn phòng làm việc của anh, nghe tiếng sóng
Về đến Nha Trang, một ngày sau chúng tôi được gặp đồng chí Võ Hoà chủ tịch tỉnh. Phòng làm việc của anh không rộng lắm, vách dát gỗ đã cũ. Cách chiếc bàn lớn của anh làm việc là bộ bàn ghế nhỏ cũng bằng gỗ để anh tiếp khách. Anh làm việc cả ngày lẫn đêm trong chiếc phòng này. Thường anh làm việc đến 9 giờ đêm, đi bộ về nhà.
Anh mời chúng tôi uống trà nóng và hỏi chuyện chuyến đi ra thị xã Tuy Hoà. Chúng tôi trình bày để anh biết thêm những sự việc chưa thật rõ ràng và cả những điều gọi là “sự thật về một sự thật” xung quanh vấn đề Đoàn Thị Thuận. Cuối cùng chúng tôi kiến nghị những việc cần phải làm tiếp theo đối với nạn nhân Đoàn Thị Thuận đang trên giường bệnh và với gia đình ông Đoàn Liễu. Nhất là những ai có trách nhiệm, có liên can trong vụ Đoàn Thị Thuận hiện nay đang ngoài vòng pháp luật cần phải điều tra để thực hiện ý nghĩa mọi người đều công bằng trước pháp luật.
Anh Võ Hoà im lặng, nét mặt buồn rõ rệt. Một chút sau anh nói cái nỗi đau của mình. Đây là một trong những nỗi đau của tỉnh nhà. Vụ Đoàn Thị Thuận làm xúc động lòng người lương thiện. Kẻ xấu, kẻ ác đã gây nên nỗi đau đớn bất hạnh, quyền sống con người bị xúc phạm một cách trắng trợn, một cách nghiêm trọng. Cuối cùng anh nói rõ ý định của mình, là chủ tịch là trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh trong kỳ họp Quốc hội sắp tới sẽ đặt thành chương trình nghị sự để cốt sao xử lại thật công bằng, thật đúng pháp luật không để tội phạm lọt lưới. Trong lúc anh nói hay dừng lại để suy nghĩ, chúng tôi lắng nghe một âm thanh vang dội trong căn phòng. Biết chúng tôi đang tìm kiếm cái âm thanh kia, anh Võ Hoà bằng giọng lắng xuống thật nhỏ nhẹ :
- Tiếng sóng đấy đồng chí à. Sóng của biển ngoài kia. Đêm nay sóng vang hơn chắc là ảnh hưởng của cơn bão xa. Các đồng chí à, đêm ngày ở đây tôi nghe rõ tiếng sóng, bởi vì trong tiếng sóng có nỗi đau …

Dưới ánh đèn, chúng tôi thấy ánh mắt anh đang nhìn ở phía xa, và nỗi đau đang xâm chiếm trong anh. Lúc này chúng tôi thấy rõ anh thật tình người, thật nhân hậu. Chúng tôi chào từ giã, anh theo ra đứng dưới mái vẫy tay loáng sáng. Ngồi trong xe sao chúng tôi vẫn nghe tiếng song trong phòng anh.
Ngày hôm sau chúng tôi lên đường về thành phố thì đã nghe cơn bão số 10 đổ vào Phú Khánh. Chúng tôi tin trong cơn bão dữ, anh Võ Hoà sẽ làm được ý định và thắng lợi một cách quyết liệt từ tấm lòng nhân hậu của anh.

Những ngày đầu tháng 11.1988

PHẦN MỘT Trúc Chi HÃY CỨU LẤY ĐOÀN THỊ THUẬN

PHẦN MỘT


Trúc Chi

HÃY CỨU LẤY ĐOÀN THỊ THUẬN

Về thị xã Tuy Hoà vào tối 26.7.1988 thì sang hôm sau nhiều bà con phường 3 đến thăm và nói với tối về chuyện cô gái Đoàn Thị Thuận đang sống dở chết dở ở bệnh viện Bắc Phú Khánh (thị xã Tuy Hoà). Trong số bà con, có người làm ăn, buôn bán, có người là công nhân nhà máy điện, trường Trung học xây dựng số 6, có người là cán bộ về hưu, có người là chủ tịch phường, bí thư chi bộ phường, và tất nhiên có người là cán bộ đang kiêm nhiệm chức vụ các cơ quan nhà nước tại thị xã. Mấy ngày hôm sau nữa tôi đến các trường học, một số cơ quan, một số cửa hàng chợ thị xã được nghe nhiều ý kiến, nhiều nguyện vọng của bà con về Đoàn Thị Thuận.
Vụ án xử tại phường 4 thị xã chiều ngày 27.3.1986, việc vợ của trưởng ban công an xã ăn cắp thuốc của trạm y tế giao cho Thuận, Thuận bị công an bắt ép nhận là ăn cắp thuốc. Đoàn Thị Thuận kiên quyết không nhận nên bị tra tấn, đánh đập dã man liệt đến nữa thân mình, phải chở bằng xe bò xuống bệnh viện. Vậy mà hôm xử, tội phạm Trương Trọng Lực (trưởng công an xã), Trịnh Văn Bắc, Trần Minh Phong (công an xã) 20 năm tù giam, bồi thường cho nạn nhân 240.000 đ giá bằng hai tấn gạo năm ấy. Nhân dân dự phiên toàn ngày hôm đó đều rất bất bình, nhiều tiếng hô đòi xử lại, bà con ùa và đòi kẻ tội phạm phải đền bù xứng đáng với thương tích nhục hình Đoàn Thị Thuận …
Sau ngày xử, bà con thị xã dư luận cho phiên toà bao che tội phạm, có nhiều mờ ám, khúc mắc không được được công mình. Điều mà bà con chứng minh được là nạn nhân Đoàn Thị Thuận sau đó phải đưa vào thành phố Hồ Chí Minh để điều trị chấn thương, phục hồi chức năng, còn những tên tội phạm thì bốn tháng sau tức là ngày 5.8.1986 mới đưa vào nhà giam.
Suốt ba năm nay vụ án về nạn nhân Đoàn Thị Thuận vẫn cứ thành dư luận, thành chuyện phải bàn, phải đòi tra xét lại. Nhất là sau khi nạn nhân Đoàn Thị Thuận không chữa trị ở bệnh viện thành phố Hồ Chí Minh được, nửa thân mình đã liệt hoàn toàn. Xe chở ra bệnh viện Qui Nhơn, nhưng đến nửa đêm 26 Âm lịch tết lại gửi vào bệnh viện Bắc Phú Khánh (thị xã Tuy Hoà). Bệnh viện thị xã đành phải tiếp nhận với tinh thần nhân đạo. Đoàn Thị Thuận nằm ở đây. Lúc đầu cha mẹ nuôi nấng, nhưng rồi tốn kém, tiền mất tật mang nên lại thôi. Riêng khoản tiền tội phạm bồi thường theo toà xử gia đình nạn nhân không thấy đâu. Và những tên tôi phạm theo bà con xã Hoà Quang cho biết thường xuyên ở nhà với vợ. Những tên tội phạm này còn tỏ thái độ thách thức với bà con, thách thức với pháp luật một cách ngang nhiên, trâng tráo.
Hôm tôi đến bệnh viện Bắc Phú Khách, hỏi thăm buồng nằm của Đoàn Thị Thuận, nhiều bệnh nhân, nhiều y tá, y sĩ của khoa ngoại biết được đều tập trung đến yêu cầu tôi (cũng như trước đây yêu cầu nhiều khách tỉnh ngoài đến thăm Thuận) tìm cách cứu xét, minh oan cho cô gái 28 tuổi. Bà con ở đây cho biết thêm chồng của Thuận đi bộ đội về thành thương binh, trở chứng đánh đập Thuận rồi bỏ Thuận, thỉnh thoảng có đến thăm, rồi sau đó không đến nữa. Đứa con bốn tuổi của Thuận thỉnh thoảng theo bà ngoại xuống với mẹ chỉ có khóc thôi rồi về.
Thuận nằm trên chiếc giường sắt, trông da thịt xanh tái của chứng bệnh phù, hai chân mềm nhão không động cựa được. Tay trái của Thuận hai năm nay cũng liệt dần, xuội lơ. Suốt ba năm nay Thuận chỉ nằm, mỏi lắm có người đỡ ngồi dậy một chút, ỉa đái cũng ngay tại giường nằm. Hỏi chuyện Thuận chỉ nghe tiếng được tiếng mất, trí nhớ kém hẳn. Nếu hỏi thì chỉ còn nhớ kẻ đánh mình bằng thước gỗ có cạnh sắt, đánh vào nghe đau nhức. Cạnh thước đánh vào hai ống chân, hai đầu gối và nỗi nhớ con thôi. Mỗi lần nhớ là Thuận khóc, người lã đi gần như bất tỉnh.
Cũng hôm ấy chị Xuân Lan bác sĩ phụ trách khoa ngoại bệnh viện, là người đã nhận nạn nhân Đoàn Thị Thuận vào đêm 26 tết âm lịch có cho biết nhận nạn nhân Đoàn Thị Thuận không một bệnh án, cũng không biết là người của ai, ở đâu và chế độ điều trị như thế nào. Ba năm nay thuốc men, nuôi nấng, chăm sóc cho Thuận với tinh thần là nhà thương và người thầy thuốc. Bệnh viện có làm bản tường trình gửi sở thương binh – xã hội trả lời. Nếu không có cơ quan đứng ra chịu trách nhiệm thì không biết nạn nhân Đoàn Thị Thuận có còn nằm điều trị ở đây nữa không. Bác sĩ Xuân Lan nói mà hai con mắt đỏ hoe. Bà con đứng xung quanh nhìn Thuận cũng đỏ hết hai mắt.
Tôi hiểu nỗi lòng của bác sĩ về trường hợp Đoàn Thị Thuận sẽ ra sao nếu không có lý lịch bệnh án, chế độ điều trị. Và tôi cũng hiểu đấy là lời kêu cứu của người thầy thuốc đối với một nạn nhân đang chịu một số phận bất công. Lời kêu cứu đó cũng là lời của bà con thị xã sao mà thiết tha, sao mà khẩn cấp mà mấy ngày nay tôi được được lắng nghe, được tiếp xúc. Trong lời kêu cứu tôi nhận ra tấm lòng bà con của thị xã muốn nói lên rằng, nạn nhân nhân Đoàn Thị Thuận đã chịu một tàn bạo, và bất công trong ngày xử, chẳng lẽ bây giờ lại chịu bất công không được sống nữa sao?
Trước khi ra về tôi hỏi Thuận có yêu cầu gì không. Thuận nhìn tôi trân trân, một lát sau nước mắt chảy ràn rụa, lặp bặp nói trong tiếng khóc nức nở:
- Chú ơi, làm sao cháu được sống với con cháu ? Tại sao những người đánh cháu thành tàn tật như thế này lại được sống hẳn hòi, còn cháu thì chịu đau khổ suốt đời? Chú ơi, bà con ơi, hãy cứu giúp cháu…
Tôi vừa bước ra cửa thì nhiều bà cụ đã chực sẵn, chắn lấy tôi, mắt người nào cũng đỏ hoe :
- Làm sao cứu lấy cô gái đó?
Tuổi trẻ, hạnh phúc, sự sống của Đoàn Thị Thuận đang là nạn nhân của một tội ác, một hiểm hoạ ghê gớm. Là người viết bài báo này ngay trên đất một tội ác đã xảy ra, tôi không tin sự bất lực mà hoàn toàn tin vào lương tri của mọi người, hoàn toàn tin vào điều thiện của chế độ và sự công lý công bằng của xã hội để cứu sống một con người.
Hãy cứu lấy cô gái Đoàn Thị Thuận. Lời kêu cứu của cô gái Đoàn Thị Thuận ngay trên giường bệnh Bắc Phú Khánh đã đến với chúng ta.

Tuy Hoà, ngày 8.8.1988

TIẾNG KÊU CỦA CON CHIM GÕ KIẾN

TIẾNG KÊU CỦA CON CHIM GÕ KIẾN
PHÓNG SỰ CỦA TRÚC CHI – NGUYỄN CÔNG THẮNG
HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT PHÚ KHÁNH
- 1989 -
MỤC LỤC
TẬP PHÓNG SỰ

- LỜI GIỚI THIỆU - GIANG NAM
PHẦN MỘT
- HÃY CỨU LẤY CHỊ ĐOÀN THỊ THUẬN - TRÚC CHI
- ĐOÀN THỊ THUẬN : NỖI ĐAU VẪN CÒN ĐÓ - TRÚC CHI
- TIẾNG KÊU DA DIẾT - TRÚC CHI
- NHÂN PHẨM CỦA MỘT CON NGƯỜI VÀ TÀN BẠO
CỦA MỘT THẾ LỰC - TRÚC CHI
- THƯ CHỒNG CŨ CỦA ĐOÀN THỊ THUẬN
- SỰ THẬT VỀ GIẢI TOẢ ĐƯỜNG NGÔ QUYỀN - Nguyễn Công Thắng
- CÔNG LÝ VÀ LUẬT PHÁP Ở ĐÂU - Trúc Chi
- TUY HOÀ HỘI TỤ CỦA ĐIỂM NÓNG - Trúc Chi
- KỲ HỌP QUỐC HỘI KHOÁ 8 VÀ - Nguyễn Công Thắng
VỤ ÁN ĐOÀN THỊ THUẬN
VỤ GIẢI TOẢ ĐƯỜNG NGÔ QUYỀN

PHẦN HAI
- TIẾNG KÊU CỦA CON CHIM GÕ KIẾN - Trúc Chi
- 81 TUỔI, 13 NĂM ĐI GÕ CỬA KÊU CỨU - Trúc Chi
- NHỮNG NGÔI NHÀ ĐÒI MỞ CỬA - Trúc Chi
- NGƯỜI ĐỘI MỒ - Trúc Chi
- ĐẰNG SAU VỤ ÁN
GIÁM ĐỐC HỒ XUÂN TIÊN - Nguyễn Công Thắng
- - Nguyễn Công Thắng



VÀI LỜI GIỚI THIỆU
Trong cuộc đấu tranh chống những hiện tượng tiêu cực đang tồn tại trong xã hội ta hiện nay, thể loại phóng sự có một vai trò đặc biệt quan trọng. Nó vừa là báo chí, vừa là văn học. Báo chí, vì nó viết về những việc có thật, những con người có địa chỉ hẳn hòi; nó là mũi nhọn xung kích xông vào những nơi nóng bỏng của cuộc đấu tranh giữa cái đúng và cái sai, cái thiện và cái ác, vạch trần và đả kích không thương tiếc các loại mưu mô, tội ác chống lại con người. Văn học, vì nó cho phép tác giả tái hiện cuộc sống sinh động, phong phú, khắc hoạ những hình tượng cụ thể, những cảnh huống mang tính khái quát cao, nó gõ vào trái tim người đọc như tiếng kêu của con chim gõ kiến mỗi ngày nhắc nhở, thôi thúc con người : phải làm gì để tội ác bị lôi ra ánh sang và trừng phạt? Phải làm gì để xã hội không còn bị những vết nhơ ấy nữa? Phải làm gì để đưa ra trước dư luận những thế lực đen tối bao che và đồng loã với tội ác?

Người đọc trong cả nước, đặc biệt là người đọc ở Phú Khánh – trong vài ba năm gần đây đã hết sức chú ý đến những vài tường thuật, phóng sự nóng bỏng của Trúc Chi trên các báo về vụ án Đoàn Thị Thuận, về vụ giải toả nhà dân đường Ngô Quyền ở thị xã Tuy Hoà. Trước đây chúng ta mới biết Trúc Chi qua các bài thơ và truyện ngắn, truyện thiếu nhi của anh. Thơ và truyện của Trúc Chi chân chân, tình cảm như con người của anh. Lần này quả thật đã có một Trúc Chi khác, một Trúc Chi quyết liệt, dũng cảm, dám đương đầu với thử thách. Cái gọi là “Kiến nghị của Hội đồng nhân dân thị xã Tuy Hoà” đòi Viện Kiểm Sát nhân dân tối cao truy tố anh và hai tác giả khác cùng với các báo “Tuần tin Thanh Niên” và “Tiền Phong” mới đây về tội “vu khống, loan truyền những điều bịa đặt nhằm xúc phạm đến uy tín danh dự của chính quyền thị xã Tuy Hoà” là một trong những bằng chứng sống. Nhân tố gì đã quyết định bước đi mới của Trúc Chi, đưa anh đến với thể loại phóng sự văn học vốn không phải sở trường của anh? Lòng nhân đạo, sự căm thù cái ác, lương tâm nhà văn…Nhưng có lẽ ít người biết rằng chính cái nơi đang diễn ra những điều ác ấy lại chính là nơi anh đã ra đời và lớn lên, nơi anh gởi gắm niềm tin yêu và hy vọng trong những ngày chiến đấu ác liệt nhất với kẻ thù. Nỗi đau nào bằng, trào nước mắt khi viết những dòng phóng sự cháy bỏng này.
Bạn đọc cũng từng biết Nguyễn Công Thắng, một cây bút xông xáo của “Tuần tin Thanh niên”, một nhà báo trưởng thành từ phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên miền Nam trước đây. Cuộc sống sôi động và kinh nghiệm nghề nghiệp phong phú của anh đã giúp anh thực hiện những bài phóng sự có chiều sâu, gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc. Như anh đã viết trong một bài của mình, chính sự ngẫu hứng đã đưa anh đến với mảnh đất này, một sự ngẫu nhiên giúp anh phát hiện những điều tưởng như không thể nào có thật. Từ ngòi bút anh, từ trái tim anh vang lên tiếng gọi : “Không thể nào im lặng trước đòi hỏi chính đáng của con người”
Phần lớn các bài trong tập “Tiếng kêu của con chim gõ kiến” này đều xuất hiện trên các báo trong những năm vừa qua. Dù vậy, tập hợp lại trong một tập sách, người đọc vẫn ngạc nhiên và bàng hoàng “ lẽ nào đó là những chuyện có thật? Có thể các tác giả còn chưa đủ thời gian gọt giũa nâng cao thêm nhưng chính cái thật, cái sôi động của cuộc sống, tính thời sự của tác phẩm đã đảm bảo giá trị của tập sách đối với bạn đọc.

“Nhà văn không có quyền im lặng trước cái ác. Im lặng là đồng loã” … Tôi nhớ một nhà lớn thế giới đã viết như vậy. Chỉ có đấu tranh với cái ác, kêu gọi mọi người cảnh giác chống lại cái ác mới bảo vệ được quyền sống của con người, khẳng định đường lối và chính sách của Đảng và Nhà nước ta, góp phần làm cho chủ nghĩa xã hội ngày càng được củng cố và phát triển tốt đẹp.
Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc tập phóng sự của hai tác giả Trúc Chi và Nguyễn Công Thắng viết về một địa phương nhưng chắc chắn có ý nghĩa với nhiều địa phương khác trong cả nước.

Tháng 2 năm 1989
GIANG NAM

Giới thiệu tập phóng sự "Tiếng kêu của con chim gõ kiến"


Xin chào quý vị,

Thư này gởi kèm bản đánh máy cuốn sách “Tiếng kêu của con chim gõ kiến” của tác giả Trúc Chi và Nguyễn Công Thắng, một cuốn sách nổi tiếng, từng bị cấm phát hành ở tỉnh Phú Khánh cũ (nay đã tách tỉnh là Phú Yên và Khánh Hòa) xuất bản năm 1989.

Cuốn sách là tuyển tập các bài phóng sự của hai tác giả đã từng được đăng trên báo Tiền Phong, báo Thanh Niên. Các phóng sự xuyên suốt các vụ việc công an đánh đập, tra tấn người đến tàn phế, hãm hiếp, giết người, đến những vụ tham nhũng, khuất tất trong giải phóng mặt bằng, cướp đoạt nhà và đất của dân, sự bè phái, cục bộ địa phương của lãnh đạo tỉnh Phú Khánh thời bấy giờ, các vụ án kinh tế trước Đổi mới…

Cuốn sách đưa ra các tình tiết ly kỳ, hé lộ những âm mưu, thủ đoạn tàn độc của bộ máy công an mà bạn có thể chưa từng biết tới. Nổi lên là mối quan hệ giữa chính quyền địa phương và công an trong những tội ác bị chôn dấu này. Những kẻ bị đem ra làm tốt thí chỉ là một phần của một lũ thú đội lốt người.

Đã hơn 20 năm trôi qua, ngày nay nếu bạn xem báo đài, tivi, trang mạng đưa tin về việc công an hành hung, bắn giết người dân… có thể bạn tự hỏi tình trạng này tại sao diễn ra? diễn ra mới đây hay đã lâu rồi? Khi đọc tập phóng sự này bạn sẽ tự có lời giải đáp.

Người đánh máy kính dâng tuyển tập này đến vong linh của các nạn nhân đã khuất cũng như còn sống của “lực lượng công an nhân dân”. Mong Chư vị chứng minh cho tấm lòng thành kính và xin phù hộ cho những người tranh đấu vì CÔNG BẰNG VÀ LẼ PHẢI cho dân tộc này.

Việc tái phát hành quyển sách này trên mạng Internet là lời tuyên chiến chính thức của người dân Việt Nam với tất cả bọn tham quan, công an biến chất cùng với tất cả lũ sâu dân mọt nước và bọn Việt gian bán nước.

Nguyễn Hữu Dưỡng
Người đánh máy